Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Bùi Xuân H, sinh năm 1979.

Đa chỉ: thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Chị H có mặt, anh H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Xuân H tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Kiến X, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Sinh sống tại địa phương sau đó vợ chồng có đi làm ăn xa, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012. Nguyên nhân do anh H dối trá, không chịu làm ăn, chị và gia đình khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi được, do bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ ngày càng khác nhau và không thể về chung sống cùng nhau được. Mâu thuẫn trầm trọng, chị và anh H sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Xuân H.

- Về quan hệ con chung: Chị và anh Bùi Xuân H có 01 con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010 hiện nay đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn đặt ra giải quyết chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Bùi Hải Đ và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, anh Bùi Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng cố tình không đến làm việc theo các giấy báo của Tòa án, không có ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 01/3/2019, bà Đỗ Thị Lan sinh năm 1948, trú tại: thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ anh H) trình bày: Anh H kết hôn với chị H vào năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh H chị H sống cùng với bà tại thôn H được vài năm sau đó chị H và anh H có đi làm ăn ở tỉnh ngoài, cuộc sống bình thường. cho đến vài năm trở lại đây thì vợ chồng sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn thì bà không năm rõ. Việc chị H xin ly hôn anh H thì bà không có ý kiến gì. Chị H và anh H có 01 con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010 hiện đang ở với chị H. Quan điểm của bà L, giao cháu Đ cho chị H nuôi dưỡng. Về tài sản chung nợ chung bà không biết. Hiện anh H đang làm ăn tại Hà Nội địa chỉ cụ thể và làm công việc gì bà không biết. Bà đã nhận được những văn bản tố tụng của Tòa án và bà đã thông tin cho anh H thông qua điện thoại.

Biên bản xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện K vào ngày 01/3/2019 thể hiện:

Anh H và chị H có đăng ký hộ khẩu tại thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Anh H và chị H có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K vào ngày 02/11/2009. Sau khi kết hôn, anh H và chị H làm ăn sinh sống tại địa phương sau vài năm thì anh chị đi làm ăn ở nơi khác. Cuộc sống vợ chồng bình thường không thấy có va chạm. Cho đến vài năm gần đây thì anh H và chị H có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân xuất phát từ kinh tế, hiện tại anh H và chị H đã sống ly thân mỗi người một nơi. Anh H đi làm ăn tại Hà Nội thỉnh thoảng có về địa phương thăm gia đình. Về con chung anh H và chị H có 01 con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì chính quyền địa phương không năm rõ. Quan điểm của địa phương, Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51; 56; 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a. khoản 1. Điều 24, điểm a. khoản 5.Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Xuân H.

Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc chị H không yêu cầu anh Bùi Xuân H cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Xuân H, chị H và anh H đăng ký hộ khẩu và cư trú tại thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh Hải vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Hải.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2, Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Bị đơn anh Bùi Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống sau khi kết hôn hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ khác nhau dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi không quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng trên thực tế không tồn tại. Khi biết chị H xin ly hôn, anh H không về gặp gỡ hay liên lạc với chị H để hòa giải, đồng thời cũng không làm việc với Tòa án theo giấy báo, không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, tình cảm giữa anh chị không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về quan hệ con chung: Chị H và anh H có 01 con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010 hiện nay do chị H nuôi dưỡng. Ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, để cuộc sống của cháu Đ được ổn định, cần giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[6] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H khai không có tài sản chung và nợ chung, anh H không có bản tự khai và Tòa án không ghi được lời của anh H1, do vậy về quan hệ tài sản không giải quyết trong vụ án này.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khon 4, Điều 147; khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a. khoản 1. Điều 24, điểm a. khoản 5. Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Xuân H.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Hải Đ, sinh ngày 22/12/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Bùi Xuân H cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Bùi Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0001232 ngày 28/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Xuân H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết./. 


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về