Bản án 263/2019/HS-PT ngày 06/06/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 263/2019/HS-PT NGÀY 06/06/2019 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 183/2019/TLPT-HS, ngày 02/5/2019 đối với bị cáo Nguyễn Xuân D do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HSST ngày 22/03/2019 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Xuân D (Tên gọi khác: không có); giới tính: nữ; sinh năm: 1971, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Ấp AT, xã AT, huyện TB, tỉnh TN; chỗ ở: 124/3A TQB, Phường Q, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: bị cáo không biết chữ; nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị N (đều không rõ năm sinh); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/10/2018 đến ngày 23/10/2018 được trả tự do và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/01/2019. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

- Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn T; bị hại Nguyễn Văn M; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Anh D không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo nên Hội đồng xét xử không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00, ngày 21/10/2018, Nguyễn Văn T đi bộ một mình đến khu vực chợ Kim Biên, Quận 5 tìm xe máy không người trông coi thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, T phát hiện trong lối đi chung của hộ tập thể số 86 Nguyễn An K, Phường 13, Quận 5 có để chiếc xe gắn máy hiệu Vision, biển số: 59X2-854.34 (của anh Nguyễn Văn M). Lợi dụng lúc không có người trông coi và xe không có khóa cổ nên T đi vào lấy trộm chiếc xe trên. T đẩy bộ đến cầu Nhị Thiên Đường, Quận Z thì gặp D đang ngồi nhậu cùng bạn, T đến nói với D là xe mới lấy trộm được và nhờ D giúp đẩy xe về nhà thì D nói đẩy xe về tiệm sửa xe của D (tại địa chỉ 103 Tạ Quang Bửu, Phường 3, Quận Z). Tại đây, T có nhờ D nổ máy xe và tìm người để T bán chiếc xe vừa trộm cắp được, T có thỏa thuận với D nếu bán chiếc xe được khoảng 5.000.000 đồng thì sẽ cho D 500.000 đồng thì D đồng ý. Sau khi D giúp T nổ được máy xe thì D điều khiển xe biển số: 59P1-9421 của D, còn T điều khiển xe biển số: 59X2-854.34 đi đến quán cà phê cạnh bên cửa hàng Thế giới di động trên đường Tạ Quang Bửu, Quận Z. D gọi điện cho H (không rõ nhân thân lai lịch) để bàn bạc về việc bán chiếc xe T vừa lấy trộm được. Do đợi quá lâu nên T lấy xe chạy về nhà tại B3.6B chung cư BD, Phường 6, Quận Z để cất xe. Khoảng 15 phút sau D gọi điện cho T quay lại vì đã tìm được người cần mua xe. Tuy nhiên do xe không nổ máy được nên T gọi D đến nhà T để cùng đẩy xe quay lại quán cà phê. Khi D và T đẩy xe đi đến trước nhà số 005 Lô A1 chung cư BD, Phường 6, Quận Z thì bị Trinh sát Đội 4 – Phòng Cảnh sát hình sự, Công an Tp Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra và đưa về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T và Nguyễn Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Qua định giá, chiếc xe trên có giá trị là 17.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản trao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn M Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và truy tố Nguyễn Xuân D về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã xác định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HSST ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38, Điều 50; điểm h, i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15, khoản 1, 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân D: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/10/2018 đến ngày 23/10/2018).

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/01/2019, bị cáo Nguyễn Xuân D có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất cũng như mức độ của hậu quả đã xảy ra. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Xuân D không có ý kiến tranh luận, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 22/3/2019, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí minh xét xử sơ thẩm, đến ngày 26/3/2019 bị cáo Nguyễn Xuân D có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Xuân D tuy không tham gia vào việc trộm cắp xe gắn máy hiệu Vision biển số 59X2-854.34 cùng với Nguyễn Văn T, nhưng D biết rõ chiếc xe do T trộm cắp được mà có và đã môi giới giúp T tiêu thụ xe. D được T hứa hẹn nếu bán được xe thì T sẽ cho D 500.000 đồng nên D liên lạc với H, giới thiệu cho H mua chiếc xe của T. H đồng ý và hẹn địa điểm giao dịch, tuy nhiên, cả hai chưa kịp bán xe cho H thì bị bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng là chiếc xe máy nêu trên. Qua định giá, chiếc xe gắn máy bị chiếm đoạt và được đem đi tiêu thụ trong vụ án có giá trị là 17.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Xuân D đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân Quận 5 đã xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:

Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, tuy nhiên trong đơn kháng cáo bị cáo không nêu rõ lý do.

Xét hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo, khi lượng hình thì Tòa án nhân dân Quận 5 đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên chưa gây thiệt hại; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo D do phạm tội chưa đạt nên cấp sơ thẩm áp dụng thêm Điều 15 và khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ và tình tiết nào mới, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định mức án 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng và phù hợp với mức độ cũng như hậu quả của hành vi phạm tội, để bị cáo có đủ thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

[4] Những lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân D và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 30/2019/HSST ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15, khoản 1, 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2018 đến ngày 23/10/2018.

4. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 22 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Xuân D phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về