Bản án 268/2017/HSST ngày 31/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 268/2017/HSST NGÀY 31/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31/08/2017, tại Tòa án thị xã TS xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 292/2017/HSST ngày 10/08/2017 đối với bị cáo:

Quách V, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; dân tộc mường; không nghề nghiệp; học phổ thông: 09/12; con ông Quách V, sinh năm 1960 và bà Quách T, sinh năm 1962; gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo thứ 4; không tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/05/2017 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Viện kiểm sát thị xã TS truy tố bị cáo về hành vi sau:

Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 29/05/2017, tại khu phố M, phường Đ, thị xã TS; bị cáo Quách V có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêrôin, trọng lượng 0,3140gam, để sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Bị cáo nghiện ma túy nên vào ngày 26/05/2017, bị cáo đã đến khu phố M, phường Đ mua 01 gói ma túy, giá 150.000đ của người không quen biết, mục đích để sử dụng. Đến ngày 29/05/2017 bị cáo để gói ma túy trên trong túi quần, đi xe máy Yamaha Exiter, biÓn số 28E- 033.89, chở anh T trên đường đi đến xã Hoàn S thì bị bắt giữ, anh T không biết bị cáo mang theo ma túy.

Kết luận giám định số: 836/KLGĐ-PC 54 ngày 29/05/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy nhỏ có trọng lượng 0,3140; loại ma túy: Chất Hêrôin”.

Cáo trạng số: 196/CTr-VKS ngày 07/08/2017 của Viện kiểm sát thị xã TS truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Khoản 1 Điều 194 (khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự), Điều 33, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41 ngày 20/06/2017, của Quốc hội xử phạt bị cáo: 15 đến 18 tháng tù; tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau giám định.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và vật chứng thu được có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 29/05/2017, tại khu phố M, phường Đ, thị xã TS; bị cáo Quách V có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất Hêrôin, trọng lượng 0,3140gam, để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại lớn cho xã hội; ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm hình sự khác; bị cáo sử dụng ma túy và nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã phạm tội. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt từ 2 năm đến 07 năm tù và tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, cùng đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy; theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo và căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017, của Quốc hội để xem xét, quyết định mức hình phạt cho phù hợp với hành vi của bị cáo.

Xét thấy bị cáo không tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt, được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Nhưng đề nghị mức hình phạt là hơi nặng so với hành vi của bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau.

Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe máy biển số biển số 28E- 033.89 bị cáo mượn của anh V, không liên quan đến việc phạm tội; Cơ quan điều tra đã trả cho anh V là phù hợp. Anh T đi cùng bị cáo khi bị bắt, anh T không biết bị cáo có ma túy, nên không bị xử lý là đúng pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Quách V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 194 (Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015), Điều 33, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 41 Bộ luật hình sự;

- Điều 76, Điều 99, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số: 41 ngày 20/06/2017 của Quốc hội, về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Quách V 14 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/05/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về