Bản án 268/2019/HS-PT ngày 19/09/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 268/2019/HS-PT NGÀY 19/09/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Vào ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 292/TLPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo: Vũ Việt D và các đồng phạm về tội “Giết người”. Do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1067/2019/QĐXXPT-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Vũ Việt D (tên gọi khác: D), sinh năm 1979; tại tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Đ (tên khác Vũ Đình Đ) và con bà Lê Thị T;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Có vợ Phạm Thị Kim A và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Nhân thân bị cáo: Chưa có án tích, nhưng đã bị xử lý vi phạm hành chính;

Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ ngày 18/12/2014 và tạm giam đến ngày 18/6/2016 được trả tự do theo Quyết định số: 02/2016/HSPT-QĐTĐBPNC ngày 13/6/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (thời gian tạm giữ, tạm giam 18 tháng);

Bị cáo bị bắt lại để tạm giam từ ngày 04/4/2018 tại Cơ sở giam giữ T20 Công an tỉnh Gia Lai cho đến nay, có mặt.

2. Lê Anh Q (tên gọi khác: T, C); sinh năm 1989; tại Quảng Ninh; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Đình T và con bà Nguyễn Thị T;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân bị cáo: Ngày 08/12/2006 có hành vi Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù, ngày 29/10/2007 chấp hành án xong. Ngày 03/3/2014 có hành vi “Cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm 06 tháng tù; Bị cáo ra đầu thú bị tạm giữ ngày 15/11/2014 và tạm giam tại Cơ sở giam giữ T20 Công an tỉnh Gia Lai cho đến nay, có mặt.

3. Phạm Thế P; sinh năm 1985; tại thành phố Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Phạm Thế H và con bà Nguyễn Thị N; Có vợ Nguyễn Thị T và có 01 con sinh năm 2014.

Tiền sự: Không có; Tiền án: Có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; Nhân thân bị cáo: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính;

Bị cáo ra đầu thú bị tạm giữ ngày 15/11/2014 và tạm giam tại Cơ sở giam giữ T20 Công an tỉnh Gia Lai cho đến nay, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Việt D: Luật sư Phạm Ngọc Q - Luật sư Luật sư Văn phòng Luật sư Q, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai, có đơn xin vắng mặt và có luận cứ bào chữa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Anh Q: Luật sư Hoàng Ngọc X – Luật sư Văn phòng Luật sư B, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, vắng mặt và bị cáo Q có đơn từ chối người bào chữa.

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thế P: Luật sư Tống Đức N – Luật sư Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai, có mặt.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Đăng T; sinh năm 1988 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của người bị hại:

- Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1964 (là bố của bị hại) và bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1964 (là mẹ của bị hại); Cùng địa chỉ: tỉnh Gia Lai, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của người bị hại: Luật sư Trần Đình T, Luật sư Văn phòng Luật sư V, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị Kim A, sinh năm 1979; Địa chỉ: tỉnh Hải Dương, có mặt.

- Ông Lê Đình T, sinh năm 1962; Địa chỉ: thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

- Ông Phạm Thế H, sinh năm 1962; Địa chỉ: thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 09/10/2014, tại nhà của Hoàng Việt D1, thành phố P, tỉnh Gia Lai có tổ chức uống rượu, tham gia gồm: Nguyễn Thị Ngọc G, Trần K, Nguyễn Thị Kim P, Lê Văn T1, Vương Toàn K1, Lê Chí C, Vũ Việt D, Lê Anh Q và Phạm Thế P. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, K rủ tất cả mọi người đến quán Bar W, thành phố P, tỉnh Gia Lai để tiếp tục uống rượu và nghe nhạc thì tất cả đồng ý và cùng đi. Khi vào quán Bar W, nhóm của Vũ Việt D được bố trí tại bàn Vip 3 quầy Bar. Ngồi chơi được khoảng 30 phút thì K đi về trước, còn anh T1 xuống tầng dưới chơi bi da, những người còn lại tiếp tục ngồi chơi và uống rượu (trước đó T1 đã đưa chìa khóa xe ô tô BKS 82A- 005.88 cho Vũ Việt D).

Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, anh Nguyễn Đăng T và anh Đặng C1 vào quán Bar W uống bia và đứng nhảy cách bàn của nhóm Hoàng Việt D khoảng 05 mét. Trong lúc đứng nhảy, Nguyễn Đăng T có hành động vừa nhảy, tay cầm ghế xoay và tay có chỉ về phía bàn Vip 3. Thấy vậy, anh Nguyễn Đình Q (người quản lý quán bar) đến bàn hỏi nhóm của Vũ Việt D và mọi người ở đây có quen biết và mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Đăng T hay không thì mọi người nói không quen biết, nên anh Q đi ra, chị Nguyễn Thị Kim P đi đến nói chuyện với T, nhưng T không nghe và đẩy chị P trở về bàn.

Đến khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, chị P nói tính tiền đi về, thì Hoàng Việt D1, Vũ Việt D, G, P, K1, C đứng dậy đi ra trước, còn Lê Anh Q và Phạm Thế P vẫn ngồi tại bàn, theo lời khai của Lê Anh Q và Phạm Thế P, khi Vũ Việt D đi ngang qua cúi người xuống dùng hai tay kéo đầu Q và P lại nói “Hai thằng mày ở lại lấy cái chai đập vào đầu thằng mặc quần soọc cho tao” (ý chỉ Nguyễn Đăng T đang nhảy) rồi đi ra ngoài quán bar. Hoàng Việt D1 và chị Nguyễn Thị Kim P đi ra trước, tiếp đến Vũ Việt D, Vương Toàn K1, Lê Chí C đi ra cùng nhau phía sau cách nhau khoảng 04m, khi vừa đi ngang qua bàn của T đang nhảy thì T lao vào đòi đánh Vũ Việt D, Vương Toàn K1 và Lê Chí C nhưng được anh Phạm Xuân P1, Đỗ Thanh A và Phạm Kim Q là bảo vệ quán Bar can ngăn, nên D, K1 và C tiếp tục đi ra ngoài quán. Khi thấy T lao tới đòi đánh thì Lê Anh Q liền cầm 01 chai rượu Chivas (còn rượu một ít) từ bàn Vip 3 chạy tới đập 01 cái vào đầu Nguyễn Đăng T. Thấy T bị đánh, anh Đặng C1 liền cầm ly thủy tinh (ly uống bia) ở trên bàn, ném 01 cái trúng vào đầu Q, làm Q bị chảy máu. Thấy vậy Phạm Thế P từ bàn Vip 3 chạy đến, cầm ly thủy tinh ném 01 cái vào người anh T, đồng thời rút con dao nhọn cất trong cặp đang đeo trước người ra đâm 01 nhát vào phía trước ngực của T, sau đó tiếp tục cầm dao đuổi C1, C1 chạy ra ngoài quán Bar. Còn Lê Anh Q sau khi bị C1 ném ly vào đầu thì Q cúi người xuống, tay phải rút con dao ở thắt lưng quần ra đâm 02 nhát liên tiếp trúng vào vùng lưng của T. T xoay người lại Q tiếp tục đâm 01 nhát trúng vào phía trước người T làm T ngã gục xuống sàn nhà trong phòng Bar.

Lúc này Hoàng Việt D1 và Vũ Việt D đang đứng chờ thang máy để đi xuống, thấy Lê Anh Q và Phạm Thế P chạy ra mỗi người trên tay cầm 01 con dao có dính máu. Sau đó Q và P tiếp tục chạy vào phòng Bar, Q và P đến chỗ anh T đang nằm gục trên sàn nhà, Q dùng chân đá 01 cái vào đầu T, đồng thời cầm dao chỉ về các nhân viên, bảo vệ trong quán Bar đe dọa và nói “Thằng nào đập ly vào đầu tao ”, còn P thì cầm dao cúi xuống đâm 01 nhát vào đầu T, thấy vậy Q chụp tay ngăn P lại, P tiếp tục cầm ly thủy tinh đang để ở trên bàn gần chỗ T nằm ném vào lưng của T. Khi Vũ Việt D thấy Q và P quay vào trong quán Bar thì D đi theo vào trong phòng Bar, chỉ tay và nói “Sao bọn bay không về đi, quay lại làm gì”, đồng thời chỉ tay về hướng nhân viên và bảo vệ quán Bar đe dọa, nói “Ở đất Gia Lai này tao không sợ thằng nào” khi chỉ tay và nói xong Vũ Việt D đi ra, Q và P cùng đi theo sau và đi xuống cầu thang bộ ra ngoài, thì Lê Anh Q và Phạm Thế P bị một số thanh niên lấy ghế ném, P xông vào đòi đánh lại thì được Q ôm kéo ra.

Cùng lúc này Vũ Việt D đi ra đường N lấy xe ô tô BKS 82A-005.88 của Lê Văn T1 đi về trước, Lê Anh Q và Phạm Thế P ra sau định lên xe của Vũ Việt D thì D nói đi xe khác nên Q và P đi ra đường N thì gặp Hoàng Việt D1 đang ngồi trên xe taxi, Q và P lên taxi của Hoàng Việt D1, khi lên xe taxi P nói cho đi nhờ đến Ngã ba Hàm Rồng thuộc xã Chư Hdrông, thành phố P, tỉnh Gia Lai, trên đường đi Phạm Thế P nói với Hoàng Việt D1 điện thoại cho Vũ Việt D xin tiền cho Q và P, Hoàng Việt D1 đã điện thoại cho Vũ Việt D xin tiền và nói có Q và P đi cùng.

Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, Vũ Việt D điều khiển xe mô tô BKS 81X1-065.69 chở sau chị Nguyễn Thị Hải Y đến gặp Hoàng Việt D1. Lúc này, Q và P đã trốn vào một bụi cây ven đường và vứt lại 02 con dao tại đây, còn Hoàng Việt D1 đang đứng đợi bên đường. Vũ Việt D đến và đưa cho Hoàng Việt D1 1.000.000 đồng và nói Hoàng Việt D1 đưa tiền cho Q và P. Đưa tiền xong, Vũ Việt D điều khiển xe mô tô chở chị Y đi về. Sau đó, Hoàng Việt D1 đưa cho Q và P 800.000 đồng, để đón xe đi thành phố Hồ Chí Minh, còn Hoàng Việt D1 đi về nhà.

Theo lời khai của Lê Anh Q, trong khi đi taxi đến ngã ba Hàm Rồng thì Hoàng Việt D1 có hỏi Lê Anh Q “Đã đâm nó gục rồi hả”, Hoàng Việt D1 không thừa nhận nội dung trên, còn Phạm Thế P ngồi bên cạnh Hoàng Việt D1 khai cũng không nghe thấy và Lê Anh Q ngồi ghế bên tài đầu bị thương chảy máu.

Lê Anh Q và Phạm Thế P đón xe khách đi thành phố Hồ Chí Minh, khi đến tỉnh Bình Phước thì xuống xe và điện thoại cho Vũ Việt D để xin tiền, D nói P và Q đón xe taxi đi thành phố Hồ Chí Minh gặp anh Thái Quang H (là bạn của Vũ Việt D) lấy số tiền 3.000.000 đồng.

Đến ngày 10/10/2014, Vũ Việt D đi thành phố Hồ Chí Minh và gọi điện hẹn gặp Q và P tại một quán cà phê trên thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Vũ Việt D thông báo cho Q và P biết anh Nguyễn Đăng T đã chết, D nói Q và P bỏ trốn, còn sự việc đánh chết anh Nguyễn Đăng T để Vũ Việt D giải quyết và đồng thời đưa tiếp cho Q và P 3.000.000 đồng vào ngày 12/10/2014 tại nhà ông Nguyễn Trọng L.

Ngày 13/10/2014, tại quán cà phê thuộc, TP.Hồ Chí Minh, Vũ Việt D tiếp tục đưa cho Q và P số tiền 5.000.000 đồng và đồng thời điện thoại cho chị Phạm Thị Kim A (là vợ) chuyển cho anh Lê Trọng L (là cậu của D) ở thành phố Hồ Chí Minh để lấy tiền kinh doanh qua Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 14/10/2014, tại quán cà phê thuộc TP.Hồ Chí Minh, Vũ Việt D đưa cho Q và P số tiền 5.000.000 đồng;

Ngày 15/4/2015, anh Luân đã giao số tiền 84.000.000 đồng cho Lê Anh Q và Phạm Thế P.

Đầu tháng 11/2014, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vũ Việt D thông qua một người tên là Hùng, đưa cho Q và P 10.000.000 đồng.

Như vậy Vũ Việt D đã đưa tiền cho P, Q để bỏ trốn là 110.800.000 đồng. Vũ Việt D không thừa nhận số tiền đưa thêm cho Q và P 23.000.000 đồng và chỉ thừa nhận đưa cho Q và P số tiền 84.000.000 đồng là tiền công làm thuê của Q và P.

Trong thời gian bỏ trốn Lê Anh Q và Phạm Thế P bỏ đi các tỉnh Miền Tây chơi và đến tỉnh Bình Thuận làm thuê, do tiêu xài hết tiền và không liên lạc được với Vũ Việt D, đến ngày 15/11/2014, Lê Anh Q và Phạm Thế P đến Công an tỉnh Bình Thuận đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 18/12/2014, Vũ Việt D đến Công an tỉnh Hải Dương đầu thú và Công an tỉnh Hải Dương đã chuyển giao Vũ Việt D cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai để xử lý theo thẩm quyền.

Kết quả khám nghiệm tử thi phát hiện Nguyễn Đăng T có 05 vết thương hình khe tại vùng chẩm phải, ngực trái, ngực phải, lưng phải và thắt lưng phải. Ngoài ra trên người Nguyễn Đăng T còn có 04 thương tích khác: Tại vùng đỉnh chẩm có khối sưng nề, trong vùng sưng nề có 02 vết rách da song song nham nhở; vùng chẩm phải có vết rách da, mặt trong cẳng chân phải có vết rách da.

Giải phẫu vùng ngực thấy, vết thương vùng ngực trái xuyên qua gian sườn số 4 bên trái, làm thủng bao tim, kích thước (3x1) cm, trong bao tim có khoảng 200 gram máu đông cục và máu lỏng, vết làm thủng tâm thất trái tim kích thước (2,5 x 0,7) cm.

Giải phẫu vùng đầu thấy. Mô cơ dưới da sưng nề, dập nát, tụ máu, nền hộp sọ không rạn không nứt.

Tại Bản kết luận Giám định pháp y về tử thi số: 45/TTPY ngày 17/10/2014 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận anh Nguyễn Đăng T chết do “Mất máu cấp/vết thương thấu ngực gây thủng tim do vật sắc nhọn”.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ, trích xuất dữ liệu hình ảnh từ 06 Camera giám sát trong quán Bar để giám định. Tại kết luận giám định số: 5931/C54-P6 ngày 14/02/2017 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận “Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép hình ảnh trong 6 tệp video gửi giám định; không phát hiện âm thanh trong 6 tệp video gửi giám định”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q, Phạm Thế P, phạm tội “Giết người”;

Căn cứ Điều 329; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51, 50, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Vũ Việt D, 19 (mười chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt lại tạm giam 04/4/2018 (được trừ 18 tháng đã bị tạm giữ, tạm giam tính từ ngày 18/12/2014 đến ngày 18/6/2016).

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 50; 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lê Anh Q, 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người” tổng hợp với hình phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2016/HSST ngày 14/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Hải Dương, bị cáo Lê Anh Q phải chấp hành hình phạt chung là: 23 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/11/2014;

- Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 56 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Phạm Thế P, 18 (mười tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/11/2014;

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/8/2018 bị cáo Vũ Việt D kháng cáo cho rằng mình không phạm tội giết người.

Ngày 08/8/2018 bị cáo Lê Anh Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 08/8/2018 đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị:

+ Làm rõ hành vi phạm tội và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Vũ Việt D, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Anh Q và Phạm Thế P.

+ Bỏ lọt tội phạm đối với Hoàng Việt D1.

+ Xem xét lại trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q và đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên kháng cáo.

+ Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Hành vi của các bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q và Phạm Thế P bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, hành vi của Hoàng Việt D1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội che giấu tội phạm nhưng cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Việt D1 là bỏ lọt người phạm tội. Do đó, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo và hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án:

Tối ngày 09/10/2014, sau khi uống rượu thì các bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q và Phạm Thế P cùng một số người khác (trong đó có Hoàng Việt D1 và chị Nguyễn Thị Kim P) cùng nhau đến quán Bar W, địa chỉ 67 đường N, phường Hoa Lư, thành phố P, tỉnh Gia Lai để tiếp tục uống rượu và nghe nhạc tại bàn Vip 3 quầy Bar. Đến khoảng 21 giờ 29 phút cùng ngày, anh Nguyễn Đăng T và anh Đặng C1 vào quán Bar W uống bia, nhảy và chỉ tay về phía nhóm Vũ Việt D. Lo sợ sẽ có gây chuyện, đánh nhau chị Nguyễn Thị Kim P bảo mọi người đi về và cả nhóm Vũ Việt D cùng đứng lên đi về.

Theo lời khai của Lê Anh Q và Phạm Thế P thì khi bị cáo Vũ Việt D đi ngang qua chỗ Q và P ngồi, Vũ Việt D dùng hai tay kéo đầu của Q và P lại nói: “Hai thằng mày ở lại lấy cái chai đập vào đầu thằng mặc quần soọc cho tao” (ý đánh Nguyễn Đăng T) nên sau khi Vũ Việt D đi ra thì Lê Anh Q cầm 01 chai rượu Chivas từ bàn Vip 3 chạy tới đập 01 cái vào đầu Nguyễn Đăng T; Phạm Thế P cũng chạy đến, cầm ly thủy tinh ném 01 cái vào người anh T và dùng dao nhọn đâm 01 nhát vào phía trước ngực của T; Q dùng dao đâm 03 nhát liên tiếp trúng vào vùng lưng và phía trước người T làm T ngã gục xuống sàn nhà trong phòng Bar; Q và P bỏ chạy ra ngoài, sau đó Q và P tiếp tục chạy vào phòng Bar, Vũ Việt D đi theo Q và P vào trong phòng Bar. Q và P đến chỗ anh T đang nằm gục trên sàn nhà, Q dùng chân đá 01 cái vào đầu T, P thì cầm dao cúi xuống đâm 01 nhát vào đầu T, P tiếp tục cầm ly thủy tinh đang để ở trên bàn gần chỗ T nằm ném vào lưng của T; Vũ Việt D chỉ tay về hướng nhân viên và bảo vệ quán Bar đe dọa, nói “Ở đất Gia Lai này tao không sợ thằng nào” và cùng nhau ra về.

Lê Anh Q và Phạm Thế P lên taxi của Hoàng Việt D1 đến Ngã ba Hàm Rồng thuộc xã Chư Hdrông, thành phố P, tỉnh Gia Lai đón xe khách đi thành phố Hồ Chí Minh; đến ngày 15/11/2014 Lê Anh Q và Phạm Thế P đến Công an tỉnh Bình Thuận đầu thú và trong thời gian bỏ trốn, Q và P đã liên hệ với Vũ Việt D, được Vũ Việt D cung cấp cho Q và P số tiền 110.800.000 đồng.

[2] Với nội dung nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q và Phạm Thế P về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên:

[2.1] Theo biên bản “xác định thời điểm, nội dung dữ liệu hình ảnh thu được từ các Camera giám sát tại quán Bar W” của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai lập ngày 29/6/2017 (BL1110) có nhiều mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo và các nhân chứng trong vụ án về thời gian. Cụ thể như sau:

- Thời điểm Hoàng Việt D1 đi ra khỏi phòng Bar là 21h35 phút 45 giây; thời điểm Vũ Việt D đi ra khỏi phòng Bar là 21h36 phút 00 giây nhưng các bị cáo Q, P và Vũ Việt D, Hoàng Việt D1 ... đều có lời khai Hoàng Việt D1 và Vũ Việt D đã đi ra cùng một lần.

- Thời điểm anh Đặng C1 chạy ra khỏi phòng Bar sau khi xô xát xảy ra và trong lúc Q dùng dao đâm anh T là 21h 35 phút 59 giây và sau đó Vũ Việt D mới đi ra khỏi phòng Bar (21h 36 phút 00 giây) nhưng Vũ Việt D lại khai: “Trong thời gian Q với P đánh T thì bị cáo đúng ngoài thang máy với Hoàng Việt D1” (BL1740).

- Thời điểm Q dùng chai rượu đánh vào đầu anh T là 21h 35 phút 50 giây; thời điểm Q và P dùng dao đâm anh T là 21h 35 phút 57 giây so với thời điểm Vũ Việt D đi ra khỏi phòng Bar (là 21h 36 phút 00) đã cho thấy trong thời gian xảy ra xô xát dẫn đến cái chết của anh Nguyễn Đăng T thì Vũ Việt D đang có mặt tại phòng Bar chứ không phải Vũ Việt D đã ra ngoài phòng Bar như kết luận điều tra, cáo trạng và bản án sơ thẩm đã xác định.

Bên cạnh đó, việc Vũ Việt D đang có mặt tại phòng Bar đã được các nhân chứng Đặng C1, Hoàng Việt D1, Phạm Kim Quy, Trần Thanh Thuật có lời khai ban đầu đều xác định khi xô xát với anh Nguyễn Đăng T thì bên nhóm Vũ Việt D có ba người tham gia; tại bản trình bày của chị Nguyễn Thị Kim Ngai ngày 09/9/2015: “Tôi thấy lúc đó người ở bàn Vip 3 tính tiền xong thì cầm chai rượu đi xuống dưới bậc thang trong Bar thì chuyển chai rượu qua tay khác đập vào đầu anh T và trong số đó cũng có 3 người cùng hùa vào đánh anh T...” nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành thực nghiệm hiện trường vụ án; làm rõ mâu thuẫn các lời khai mà nhận định cho rằng tại thời điểm Q cùng P đánh, đâm bị hại Nguyễn Đăng T thì Vũ Việt D đang đứng chờ thang máy và Vũ Việt D chỉ phạm tội với vai trò xúi giục các bị cáo Lê Anh Q và Phạm Thế P phạm tội là chưa phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, chưa xác định rõ hành vi của Vũ Việt D như kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại là có căn cứ.

[2.2] Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lê Anh Q và Phạm Thế P có các lời khai cho rằng Vũ Việt D không có hành vi xúi giục các bị cáo phạm tội: “Việc đánh nhau là do tôi và P bộc phát ... không phải Vũ Việt D chỉ đạo” và lý do các bị cáo khai do D xúi giục là do các bị cáo tức giận D vì Vũ Việt D không giúp các bị cáo Q và P: “Do bực tức Vũ Việt D không nghe máy và không giúp gì nên khai D xúi giục...”. Sau đó, các bị cáo Lê Anh Q và Phạm Thế P khai lại việc Vũ Việt D xúi giục các bị cáo phạm tội: “Khi Vũ Việt D đi ngang qua cúi người xuống dùng hai tay kéo đầu Q và P lại bảo chúng tôi ở lại lấy cái chai đập vào đầu thằng mặc quần soọc” và nguyên nhân của việc Q với P khai Vũ Việt D không có hành vi xúi giục là do Điều tra viên tạo điều kiện cho Vũ Việt D gặp các bị cáo để sắp xếp lời khai. Bên cạnh đó các nhân chứng Nguyễn Thị Kim Ngai, Bùi Thị Kim Liên là các nhân viên ngồi bên cạnh Q và P tại bàn Vip 3 đều có lời khai không thấy việc Vũ Việt D kéo Lê Anh Q và Phạm Thế P để xúi giục như lời khai của các bị cáo Q và P: “vì tôi ngồi giữa Q và P nên tôi khẳng định không thấy Vũ Việt D với P và Q kéo đầu chụm lại nói chuyện...”; nhân chứng Nguyễn Thị Thu Trang có lời khai ban đầu về việc thấy Vũ Việt D cùng với Q và P bàn bạc trước khi Q và P đánh, đâm bị hại Nguyễn Đăng T nhưng sau đó nhân chứng Nguyễn Thị Thu Trang lại khai không thấy, không có việc Vũ Việt D cùng với Q và P bàn bạc: “chỉ có Q và P ngồi lại ...Q và P chỉ nói chuyện với hai nhân viên là Liên và Ngai...không ai đi lại chỗ P và Q để nói chuyện” nhưng cơ quan điều tra không làm rõ mâu thuẫn này; không trích xuất nội dung dữ liệu hình ảnh thu được từ các Camera giám sát tại quán Bar W về D cùng với Q và P bàn bạc tại bàn Vip 3 quầy Bar như lời khai lại của các bị cáo Q, P và lời khai ban đầu của nhân chứng Nguyễn Thị Thu Trang; không làm rõ việc sắp xếp để Q và P thay đổi lời khai về Vũ Việt D không xúi giục như đã nêu trên để chứng minh cho lời khai lại (D xúi giục) của Q và P là sự thật và đúng đắn.

[2.3] Đối với Hoàng Việt D1:

Trong quá trình điều tra vụ án này, Lê Anh Q khai: “Hoàng Văn D đi xe taxi đón chúng tôi ... đưa 800.000 đồng bảo chúng tôi bắt xe đi Sài Gòn luôn đi, đến nơi gọi cho D” và khi đi lên xe ngồi cùng Hoàng Việt D1 thì Hoàng Việt D1 hỏi Q: “Sao đâm nó gục xuống rồi hả” thì Q nói “vâng”. Sau đó, Hoàng Việt D1 nói “Xem thế nào lo cho hai thằng em mình đi”. Lời khai của Q phù hợp với lời khai của Hoàng Việt D1 ngày 16/10/2014; “Khi gần đến cửa ra vào tôi nghe thấy tiếng ồn ào, thủy tinh vỡ phía sau, tôi quay lại thấy Vũ Việt D, Lê Anh Q và Phạm Thế P đánh nhau với T, C1”; “lúc tôi ra đứng cầu thang máy thấy P và Q trên tay mỗi người cầm một con dao có dính máu” BL 211 và “Trên xe taxi ... tôi có hỏi và có người nói là vừa đánh nhau, em đâm đó không biết sống hay chết”; phù hợp với lời khai của Vũ Việt D: “đang đứng chờ ở thang máy cùng Hoàng Việt D1...thì P tiến lại hỏi có sao không thì thấy P cầm dao dính máu” và “tôi có dặn D đưa tiền lại cho P và Q và nhắn với P, Q đón xe đi thành phố Hồ Chí Minh rồi điện thoại cho tôi”. Ngoài ra, Phạm Thế P còn khai: “Khi ở trên taxi Hoàng Việt D1 nói chúng tôi đừng gọi tên nhau: Q béo thì gọi là béo, còn bị cáo gầy thì gọi là gầy.

Các lời khai thống nhất nêu trên cùng với việc Hoàng Việt D1 thừa nhận khi nhận tiền của Vũ Việt D thì các bị cáo Q và P sợ bị phát hiện, trốn vào bụi cây ven đường: “Khi đến Hàm Rồng, P và Q trốn vào bụi cây ven đường, còn tôi đứng chỗ taxi để chờ D” và sau khi nhận số tiền 800.000 đồng từ Vũ Việt D, Hoàng Việt D1 đưa số tiền này cho Q và P đi trốn: “Tôi nghĩ D nhờ tôi chở Q và P đến Hàm Rồng để đi trốn”; đã cho thấy Hoàng Việt D1 đã biết được Q và P đã thực hiện hành vi phạm tội, thay vì tố giác, Hoàng Việt D1 đã chở các bị cáo Q và P đến nơi đi trốn và đưa tiền (số tiền Vũ Việt D nhờ giao) tạo điều kiện cho Q và P đi vào thành phố Hồ Chí Minh trốn để né tránh việc bị phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật và gây khó khăn cho việc điều tra, cản trở việc tìm ra và xử lý Q và P. Do đó, hành vi của Hoàng Việt D1 có dấu hiệu cấu thành tội “Che giấu tội phạm”; cấp sơ thẩm chưa điều tra, truy tố và xét xử đối với Hoàng Việt D1 là thiếu sót, bỏ lọt người phạm tội.

[3] Với các nhận định nêu trên, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Việt D và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại; hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án.

[4] Do hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án nên HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét kháng cáo về bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Anh Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 355 và điểm a, b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng của bị cáo Vũ Việt D và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Nguyễn Đăng K và bà Nguyễn Thị Kim O.

1. Huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai điều tra lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

3. Án phí hình sự phúc thẩm các bị cáo Vũ Việt D, Lê Anh Q và ông Nguyễn Đăng K, bà Nguyễn Thị Kim O không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


16
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 268/2019/HS-PT ngày 19/09/2019 về tội giết người

      Số hiệu:268/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:19/09/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về