Bản án 27/2017/HSST ngày 08/08/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 27/2017/HSST NGÀY 08/08/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 08 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận K , thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2017/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo: Trần Văn T , sinh năm 1985 tại Hải Phòng;

Nơi cư trú: Thôn Nguyệt Á, xã T, huyện A,thành phố Hải Phòng; nghềnghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1954; con bà: Đỗ Thị H, sinh năm 1954; có vợ là Đỗ Thị L, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người bị hại: Bà Đặng Ngọc L , sinh năm 1971; ĐKHKTT: Số 17 Lô 2 Tân Lập, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; tạm trú: Số 1206 đường Tr, tổ 13 phường T, quận K , thành phố Hải Phòng (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Trần Văn Kh, sinh năm 1962 (chồng bà Đặng Ngọc L); nơi cư trú: Số 1206 đường T, tổ 13 phường T, quận K , thành phố Hải Phòng; có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn T bị Viện Kiểm sát nhân dân quận K , thành phố HảiPhòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/8/2016, Trần Văn T điều khiển xe môtô BKS 16N9-3509 đi một mình theo đường Trần Nhân Tông, hướng từ Ngã 6 Quán Trữ về Ngã 5 K để về nhà sau khi ăn cơm tối và uống rượu tại nhà bạn là anh Nguyễn Thanh T (sinh năm 1983 ở số 6/305 đường H, phường L, quận K , Hải Phòng). Khi đến trước cửa nhà số 46 Khu 3 tầng, đường T, phường V, quận K , Hải Phòng, thì xe môtô do Trần Văn T điều khiển đâm vào bà Đặng Ngọc L đang đi bộ từ nhà ở số 1206 đường T sang vỉa hè phía đối diện. Hậu quả làm bà Lan bị thương nặng, được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa K , đến 21 giờ cùng ngày thì tử vong.

Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tổ chức khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường cong hai chiều thuộc đường T, phường V, quận K , thành phố Hải Phòng được trải nhựa, chiều rộng mặt đường 12m có vạch kẻ sơn không liên tục ở chính giữa đường và hệ thống vạch kẻ sơn liên tục chiều rộng 0,2m nằm dọc theo đường T cách hai mép vỉa hè 2,5m. Mặt đường ướt do trời mưa, vỉa hè cao hơn mặt đường 0,15 m. Chọn mép vỉa hè bên phải theo chiều từ Ngã 5 K về ngã 6 Quán Trữ làm chuẩn. Tại hiện trường: Vị trí số 1: Có vết cày xước mặt đường liên tục dài 6,4m rộng 0,3cm hướng từ Ngã 6 Quán Trữ đi Ngã 5 K , đầu vết cách mép vỉa hè chuẩn 3,45m, cuối vết trùng bàn để chân trước bên trái xe môtô BKS 16N9-3509; vị trí số 2: Xe môtô này nằm đổ nghiêng về bên trái, đầu xe hướng về Ngã 5 K , tâm bánh trước xe cách vỉa hè chuẩn 0,4m, tâm bánh sau cách vỉa hè chuẩn 1,1m; vị trí số 3: Vị trí đầu bà Lan được người dân đánh dấu lại có vết máu loang không xác định được kích thước, cách mép vỉa hè chuẩn 3,9m, cách ngang tâm bánh sau xe môtô BKS 16N9-3509 là 0,6m; vị trí số 4: Chiếc thìa kim loại màu bạc cách mép vỉa hè chuẩn6,2m, cách vị trí đánh dấu đầu chị Lan 21,1m. Chiếc dép xỏ ngón trái cách mép vỉa hè chuẩn 7,3m, cách ngang chiếc thìa kim loại màu bạc 5,4m. Chiếc dép xỏ ngón phải cách mép vỉa hè chuẩn 5,9m, cách ngang chiếc dép xỏ ngón trái 16,2m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe môtô BKS 16N9-3509 cho thấy: Có nhiều vết rách vỡ ở ốp nhựa đèn chiếu sáng, ốp nhựa mặt đồng hồ báo tốc độ, phần nhựa trong đèn chiếu sáng, nắp nhựa ốp bên trên, phần nhựa ốp cổ xe hướng về võng xe và xung quanh đèn chiếu sáng tại vị trí chân gương chiếu hậu bên trái và nắp nhựa chứa lô-gô của xe. Các yếm xe trái, phải đều bị bung ra khỏi vị trí ban đầu. Phía trên bên phải của nửa chắn bùn phía trước bánh trước có vết trượt xước sơn xe kích thước 15x4 (cm). Cần số của xe bị đẩy cong hướng từ trước về sau khoảng 900. Bàn để chân trước trái bị đẩy cong hướng từ trước về sau lệch khỏi vị trí ban đầu 500, đầu bàn để chân này có vết mài mòn kim loại và cao su hướng từ trước về sau. Vị trí võng xe và vị trí đuôi xe phía trái có dính lá rau ngót. Hệ thống lái bị xoay lệch ra khỏi vị trí ban đầu hướng từ phải sang trái. Như vậy, xe môtô này đã đâm trực diện vào bà Lan, sau đó bị đổ sang bên trái và trượt trên mặt đường sang sát vỉa hè bên trái chiều đi của Trần Văn T .

Kết quả khám nghiệm tử thi bà L có nhiều dấu vết dập da, tụ máu ở đỉnh chẩm phải, mạng mỡ và mu bàn tay; ngoài ra còn bị vỡ nền sọ phải, gãy đốt sống cổ 4-5. Kết luận giám định số 153 ngày 23/8/2016 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Bà Đặng Ngọc L bị chết do đa chấn thương.

Đối với Trần Văn T sau khi gây tai nạn bị thương ở mắt trái, xước da ở khuỷu tay trái đã vào bệnh viện K điều trị. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sử dụng phương tiện đo hàm lượng cồn trong hơi thở (số hiệu máy IVE8T0048, phiên bản máy ALP-1 REV:5.02) để đo nồng độ cồn đối với Trần Văn T hồi 22 giờ 38 phút ngày 18/8/2016 xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn T là 0,535mg/ 0l lít khí thở. Theo Giấy chứng nhận kiểm định số V06.KĐ.05880.16 ngày 19/9/2016 của Viện Đo lường Việt Nam, thì phương tiện do hàm lượng cồn trong hơi thở này đạt yêu cầu kỹ thuật đo lường.

Vật chứng: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 16N9-3509 do Trần Văn T điều khiển là của chị Phạm Thị Thủy, gia đình chị Thủy cho Trần Văn T mượn để đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho gia đình chị T.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn T bị thương tích nhẹ, không có yêu cầu gì, đồng thời đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Đặng Ngọc L số tiền80.000.000 đồng, gia đình bà Lan không yêu cầu thêm và có đơn xin miễn tráchnhiệm hình sự cho Trần Văn T .

Tại bản Cáo trạng số 21/CT - VKS ngày 30/6/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K , Hải Phòng đã truy tố Trần Văn T về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Trần Văn T khai nhận: Khi bị cáo điều khiển xe môtô BKS 16N9-3509 đi đến trước cửa nhà số 46 khu 3 tầng, đường T, do thời tiết mưa bão, trời vẫn mưa khá nặng hạt, đèn đường không đủ sáng và vào đoạn đường cong, Trần Văn T điều khiển xe đi đều với vận tốc khoảng 50km/h, nhưng do không chú ý quan sát nên khi cách bà Đặng Ngọc L khoảng hơn 01m bị cáo mới phát hiện bà Lan đang cầm bát canh đi bộ từ nhà chị sang đường, không đúng phần đường dành cho người đi bộ. Bị cáo đã đánh lái sang trái, nhưng không kịp tránh, và đâm vào bà Lan, vị trí đâm vào bà Lan vẫn nằm trên phần đường bên phải theo chiều đi của bị cáo hướng từ Ngã 6 Quán Trữ về Ngã 5 K , cách tâm đường khoảng 30cm. Bị cáo thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin lỗi gia đình người bị hại, đềnghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì là lao động chính trong gia đình, bị cáo còn cha mẹ già yếu và hai con còn nhỏ.

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại là ông Trần Văn K trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo, nội dung bản Cáo trạng: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo cũng rất hối hận và cùng gia đình ông lo đám tang cho bà L. Trong gia đình đã họp bàn và thống nhất cử ông là người đại diện hợp pháp của người bị hại do mẹ đẻ bà L sức khỏe yếu lại ở quê không thể đi lại được. Gia đình ông đã nhận được số tiền 80.000.000 đồng do bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường. Nay ông không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền nào khác và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K , Hải Phòng tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T với mức án từ 36 tháng đến 48 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng, trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại,

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của những người làm chứng, lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám xe môtô BKS 16N9-3509, bản kết luận giám định về nguyên nhân chết của bà Lan, kết quả đo nồng độ cồn đối với Trần Văn T , các bản ảnh, vật chứng thu được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Với các tài liệu chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Trần Văn T là người đã được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ các quy định của Luật Giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về giảm tốc độ khi trời mưa và gặp người đi bộ sang đường, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông hơi thở có nồng độ cồn là 0,535mg/ 0l lít khí thở, dẫn đến tai nạn, gây thiệt hại cho tính mạng người bị hại là bà Đặng Ngọc L.

Bị cáo Trần Văn T đã vi phạm khoản 6, khoản 11 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường

bộ, quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

6. Khi có người đi bộ qua đường; 11. Trời mưa”.

Theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, thì:

 “2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

c) Người điều khiển xe môtô mà có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở”.

Như vậy, hành vi của Trần Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều202 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng của người khác..”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”.

Viện Kiểm sát nhân dân quận K , Trần Văn T phố Hải Phòng truy tố bị cáovề tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, an toàn công cộng, trật tự công cộng mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xét thấy cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên cũng cần xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ lỗi vô ý, người bị hại cũng có lỗi một phần. Bà Đặng Ngọc L đi bộ sang đường không đúng phần đường quy định, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều32 Luật Giao thông đường bộ và điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính Phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ, đường sắt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo sau khi gây tai nạn đã chủ động tác động cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; có thái độ khai báo Trần Văn T khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo đã có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo và gia đình chấp hành tốt mọi chủ trương đường lối, pháp luật của Nhà nước có xác nhận của chính quyền địa phương là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền là 80.000.000 đồng, gia đình người bị hại không yêu cầu bị cáo Trần Văn T phải bồi thường khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết về việc bồi thường thiệt hại.

Về vật chứng của vụ án:

- Cơ quan điều tra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 16N9-3509 cho chị Phạm Thị T (sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện A, Hải Phòng). Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số S 840443 mang tên Trần Văn T do Sở Giao thông công chính thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/8/2004, Hội đồng xét xử trả lại cho Trần Văn T tại phiên tòa.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội " Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ".

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về