Bản án 27/2017/HSST ngày 18/08/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 27/2017/HSST NGÀY 18/08/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 18/8/2017 tại trụ sở Tòa án huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2017/HSST ngày 26/6/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T-sinh năm 1958; nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 05/12; con ông Nguyễn T, sinh năm 1927 (chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1935 (chết); vợ: Trần Thị H, sinh năm 1960 (chết); con: Có 03 con (lớn sinh năm: 1979, nhỏ sinh năm: 1991); tiền án, tiền sự: Không, bị cáo đang tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Nguyễn Công Đ, sinh năm 1961

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn H, sinh năm 1979

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh KhánhHòa.(Vắng mặt)

Người làm chứng:

1/ Lê Ngọc H, sinh 1979

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh KhánhHòa (Vắng mặt).

2/ Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1975

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.( Vắng mặt)

3/ Nguyễn Thị T, sinh năm 1973

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng  mặt)

4/ Trần Ngọc Th, sinh năm 1974

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.( Vắng mặt)

5/ Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.(Vắng  mặt)

6/ Phạm Thị H, sinh năm 1978

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh KhánhHòa. (Vắng mặt)

 7/ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978

Địa chỉ: thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 11/10/2016 chị Nguyễn Thị Kim T trên đường đi chợ ngang qua nhà Nguyễn Văn T ở thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm thì bị T chặn đường, dùng rựa chém nhưng chị T chạy thoát không trúng. Sau đó chị T về nhà kể lại sự việc trên cho Nguyễn Công Đ, là anh ruột của mình nghe.

Khoảng 13 giờ ngày 12/10/2016, Đ cầm theo một thanh tre đến nhà T để hỏi lý do tại sao chặn đường chém T. Vừa đến nơi thấy T từ trong nhà đi ra thì Đ cầm thanh tre đánh, T chụp được thanh tre và xô Đ ngã, sau đó T vào nhà lấy một con dao dài khoảng 50 cm (cán gỗ, lưỡi bằng sắt) chạy ra chém một nhát trúng vào vai trái anh Đ, Đ bị té ngã xuống đất. T tiếp tục chém liên tiếp 03 nhát. Đ đưa chân lên đỡ thì bị trúng vào gan bàn chân trái, mặt ngoài bàn cá chân phải và mặt sau cẳng chân phải. T vất lại con dao đi vào nhà. Đ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 157 ngày 24/10/2016 của Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh xác định anh Đ bị: Gãy 1/3 xương đòn trái, rách da dài 03 cm sắc gọn. Vết thương gan chân trái dài 05 cm dọc kẻ ngón 1,2, mép vết thương sắc gọn. 1/3 dưới ngoài cẳng chân phải dọc xương mác vết thương dài 15 cm đến mắt cá ngoài, vết thương sắc gọn. 1/3 sau trên cẳng chân phải, vết thương rách da dài 10 cm sắc gọn. X-quang: Gãy 1/3 trong xương đòn trái, gãy xương sườn 2 bên trái, nghi gãy mắt cá ngoài chân phải.

Ngày 04/01/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Công Đ là 27 % (hai mươi bảy phần trăm).

Theo Kết luận giám định số 43 ngày 31/5/2017 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận Nguyễn Văn T bị: Tại thời điểm gây án (ngày 12/10/2016) và hiện tại: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển.

Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 22/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 (phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104) Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 22/6/2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 104 (phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104); điểm b, n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ18 đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Công Đ không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 50 cm, phần cán làm bằng gỗ tròn dài 20cm, đường kính 03 cm, phần lưỡi bằng thép dài 30 cm, rộng 3-5 cm, dày 2-3 mm được mài sắc.

Về án phí: Án phí bị cáo phải chịu theo qui định của pháp luật

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H; Người làm chứng Lê Ngọc H, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị T, Trần Ngọc Th, Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị H vắng mặt. Nhưng việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 191, 192 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 13 giờ, ngày 12/10/2016, tại nhà Nguyễn Văn T thuộc thôn Văn Thủy 2, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, Nguyễn Văn T dùng dao (dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt) là hung khí nguy hiểm chém anh Nguyễn Công Đ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương là 27%. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2, Điều 104 Bộ luật hình sự (viện dẫn điểm a, khoản 1 Điều này) là có căn cứ và đúng pháp luật. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự (viện dẫn điểm a, khoản 1 Điều này) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T thể hiện tính hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng và sức khỏe của người khác đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên phải được xử lý nghiêm khắc. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho ông Đ một phần thiệt hại là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và đượcngười bị hại  bãi nại; mặt khác theo Kết luận giám định số 43 ngày 31/5/2017 của trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận Nguyễn Văn T tại thời điểm gây án (ngày 12/10/2016) và hiện tại: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, người bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội “Cố ý gây thương tích” quy định hình phạt từ 02 năm đến 05 năm tù, nhẹ hơn hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV, Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt từ 02 năm tù đến 05 năm tù để xử phạt bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật và xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Công Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

* Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 (một) con dao dài 50 cm, phần cán làm bằng gỗ tròn dài 20 cm, đường kính 03 cm, phần lưỡi bằng thép dài 30 cm, rộng 3-5 cm, dày 2-3 mm được mài sắc không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử thấy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV,

 Áp dụng khoản 2 Điều 104 (Viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 104); điểm b, n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự,

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Công Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 50 cm, phần cán làm bằng gỗ tròn dài 20 cm, đường kính 03 cm, phần lưỡi bằng thép dài 30 cm, rộng 3-5 cm, dày 2-3 mm được mài sắc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về