Bản án 27/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 27/2019/DS-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Kim Đ, sinh năm 1974; cư trú tại: Ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Lâm Thanh D, sinh năm 1976; cư trú tại: Ấp HH, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Lê Hồng T, sinh năm 1977; cư trú tại: Ấp HH, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Phan Kim Đ trình bày: Trước đây, chị có tham gia 02 chưng hụi trong 01 dây hụi do anh Lâm Thanh D và chị Lê Hồng T làm chủ hụi, cụ thể: Loại hụi 500.000đ, mở ngày 30/3/2016 âl, 01 tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 81 chưng. Tham gia được một thời gian thì chị hốt 01 chưng, còn lại 01 chưng. Ngày 15/11/2018 anh D, chị T tuyên bố đình hụi. Số tiền của 01 chưng hụi sống mà anh D, chị T nợ chị là 67 kỳ x 500.000đ = 33.500.000đ. Đối trừ với số tiền của 01 chưng hụi chết là 500.000đ x 14 kỳ = 7 000.000đ. Nay chị yêu cầu anh D và chị T trả cho chị số tiền 33.500.000đ - 7 000.000đ = 26.500.000đ.

Chị Lê Hồng T trình bày: Về thời gian mở hụi, loại hụi, số chưng, thời gian đình hụi và số tiền nợ hụi như chị Đ là đúng. Nhưng chị cho rằng số tiền nợ đó là khoản nợ riêng của chị, không phải nợ chung của chị và anh D. Nay chị đồng ý chỉ một mình chị trả cho chị Đ số tiền 26.500.000đ, chị không đồng ý việc chị Đ yêu cầu anh D cùng trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Kim Đ khởi kiện yêu cầu anh Lâm Thanh D và chị Lê Hồng T trả tiền hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tung: Anh D, chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Đối với chị Đ hiện đang bị tạm giam để điều tra trong vụ án hình sự nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đ, anh D, chi T.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các đương sự có tham gia chơi hụi và còn nợ tiền hụi với số tiền 26.500.000đ là thực tế có xãy ra, việc này được chị Đ và chị T thừa nhận. Nay chị Điều yêu cầu anh D và chị T trả 26.500.000đ, chị T đồng ý, nhưng chị T chỉ đồng ý một mình chị trả, chị không đồng ý việc anh D cùng trả.

[4] Xét về nghĩa vụ trả tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị T xác định việc chị mở hụi và nợ hụi thì anh D không biết, không đồng ý, không trực tiếp gom hụi nên khoản nợ hụi này là nợ riêng của chị, không phải nợ chung của chị và anh D. Xét thấy: Việc chị T làm chủ hụi trong khoảng thời gian dài, chị T và anh D đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân, chị T và anh D đang sống chung một nhà. Ngoài ra, việc chị T làm chủ hụi cũng vì mục đích được nhận khoản tiền hoa hồng để phục vụ các sinh hoạt hằng ngày trong gia đình. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định khoản nợ tiền hụi nêu trên là khoản nợ chung của chị T và anh D được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do đó chị T và anh D phải có nghĩa vụ trả khoản tiền nợ hụi nêu trên cho chị Điều là phù hợp.

[5] Xét về khoản tiền phải trả, thấy rằng: Mặc dù giữa chị Đ và chị T đã thỏa thuận được số tiền phải trả. Tuy nhiên, số tiền 26.500.000đ gồm tiền vốn hụi và tiền lãi hụi, mà số tiền lãi hụi này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Nhưng chị Đ và chị T không nhớ, không có sổ sách ghi chép số tiền thực tế đã đóng của mỗi kỳ khui hụi nên Hội đồng xét xử chấp nhận khoản tiền vốn, lãi hụi theo thỏa thuận của hai bên là 26.500.000đ.

[6] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T và anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cụ thể: 26.500.000đ x 5% = 1.325.000đ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Kim Đ.

1. Buộc chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D phải có nghĩa vụ trả cho chị Phan Kim Đ số tiền là 26.500.000 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

2. Kể từ ngày chị Phan Kim Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng chị T, anh D còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Về án phí dân sự:

3.1. Chị Phan Kiều Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị Đ 663.000 đồng (sáu trăm sáu mươi ba ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009075 ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

3.2. Chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.325.000 đồng (một triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:27/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về