Bản án 27/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 27/2019/HS-ST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Tô M, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1987, tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn V, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp : Không; trình độ văn hóa : Lớp 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô B và bà Lưu L; có vợ là Hoàng B (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/9/2007, bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 300.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng và ngày 21/10/2007, bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma NLQ1y, các lần xử phạt hành chính trên đã được xóa; bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm H. Địa chỉ: Số 16, khối 8, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng  mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. NLQ1. Địa chỉ: Số 29,, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. NLQ2. Địa chỉ: Số 16, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tô M và Phạm H có quen biết chơi với nhau từ lâu. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, tại nơi ở của Phạm H, Tô M hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen- đỏ, biển kiểm soát 59X1-763.83 để về nhà xin tiền mẹ và được anh H đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô M đi về nhà xin tiền nhưng mẹ không cho. Vì không xin được tiền Tô M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 59X1-763.83 để mang đi cầm cố lấy tiền về tiêu sài. Tô M điều khiển xe mô tô trên đến cầm cố với NLQ1 lấy 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền trên M đã tiêu sài và đánh Game ăn tiền qua mạng bị thua hết. Sau khi không thấy M đem xe mô tô về trả, anh H đã nhiều lần trực tiếp đến tìm nhưng không gặp và nhiều lần gọi điện, nhắn tin liên lạc yêu cầu trả xe nhưng M không trả lời. Qua các mối quan hệ anh H được biết M đã đem xe mô tô đi cầm cố nên ngày 27/12/2018 anh H đã đến Công an thành phố L trình báo việc bị M chiếm đoạt xe mô tô. Ngày 04/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã bắt tạm giam Tô M về hành vi trên.

Tại Biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 01/ĐGTSTT ngày 04/01/2019 Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố L xác định xe mô tô biển kiểm soát 59X1-763.83 có giá trị 14.400.000 đồng (mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

Với nội dung vụ án như trên, tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 22 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố bị cáo Tô M về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Tô M thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đồng ý trả lại cho NLQ1 số tiền 4.500.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra anh Phạm H trình bày: Phạm H có quen biết chơi với bị cáo Tô M đã lâu. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, H cho M mượn xe mô tô biển kiểm soát 59X1-763.83 để về nhà một lúc có việc. Đến tối không thấy M đem trả xe, anh H có gọi điện thoại và M trả lời đang ăn cơm khoảng một tiếng nữa sẽ đem xe đến trả, sau một tiếng anh H gọi điện lại nhưng M không nghe điện thoại. Hôm sau anh H đã trực tiếp nhiều lần đến nhà tìm nhưng không gặp M và nhiều lần gọi điện, nhắn tin liên lạc yêu cầu trả xe nhưng M không trả lời. Qua các mối quan hệ anh H được biết M đã đem xe mô tô đi cầm cố nên ngày 27/12/2018 anh đã đến Công an thành phố L trình báo sự việc. Đến nay Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nên anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

NLQ1 trình bày: NLQ1 có quen biết và chơi với bị cáo Tô M đã lâu. Chiều ngày 23/12/2018, Tô M đến hiệu làm tóc của NLQ1 tại số 36, đường T, phường H, thành phố L. Khi đến nơi M nói, M có một chiếc xe mô tô muốn đặt với NLQ1 để mượn 5.000.000 đồng, NLQ1 đồng ý và cho M vay tiền nhưng chỉ đưa cho M 4.500.000 đồng và giữ lại 500.000 đồng là tiền lãi khi nào M trả đủ tiền thì sẽ trả lại xe mô tô cho M.

Tại phiên tòa NLQ1 yêu cầu bị cáo M trả lại số tiền 4.500.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. NLQ2 nhất trí với trình bày của bị hại anh Phạm H. Tại phiên tòa, trong lời luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tô M phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Về trách nhiệm dân sự công nhận sự thỏa thuận của bị cáo trả lại cho NLQ1 số tiền 4.500.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 Giấy chứng minh nhân dân. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, Tô M mượn xe mô tô biển kiểm soát 59X1-763.83 của anh Phạm H trị giá 14.400.000 đồng. Do cần tiền để tiêu sài và đánh Game ăn tiền qua mạng, Tô M đã đem chiếc xe mô tô đi cầm cố dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho anh Phạm H. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền này được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền một cách nhanh chóng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu từng có 02 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng và sử dụng trái phép chất ma túy, các tiền sự trên đã được xóa, nhưng điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nhận định này cũng phù hợp với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[8] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa NLQ1 và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận trả cho nhau số tiền 4.500.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 357; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử công nhận.

[10] Về xử lí vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với 01 (một) điện thoại Nokia màu đen và 01 Giấy chứng minh nhân dân không liên quan đến hành vi phạm tội, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 59X1-763.83, ngày 07/01/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Đối với NLQ1 là người nhận cầm cố xe mô tô để cho bị cáo vay tiền nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, Công an thành phố L quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[12] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 357; Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô M phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Tô M 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia, model 206, màu đen và 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Tô M. (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 02 năm 2019)

4. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Tô M và NLQ1. Bị cáo Tô M có trách nhiệm trả cho NLQ1 số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

5. Về án phí: Bị cáo Tô M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:27/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về