Bản án 281/2018/HS-PT ngày 12/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 281/2018/HS-PT NGÀY 12/07/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ ChíMinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 235/2018/HSPT ngày 11/6/2018 đối với bị cáo Nguyễn Đại V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2018/HSST ngày 02/05/2018 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đại V, giới tính: nam; sinh 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số đường Nguyễn Công Trứ, Phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: bảo vệ; Trình độ học vấn: 4/12; con ông Nguyễn Đại Q và bà Đoàn Thị Kim X; Vợ: Nguyễn Thị Tường V; Con: có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không.

*Nhân thân: Năm 2010, bị Công an Phường 2, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm xã hội Nhị Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2015, tái hòa nhập cộng đồng.

*Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2018. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30’ ngày 30/10/2017, Nguyễn Đại V chở vợ là Nguyễn Thị Tường V đến cửa hàng điện thoại Cellphone S - số 363 đường Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 để cài đặt lại điện thoại cho chị V. Trong lúc đợi nhân viên sửa điện thoại, V nhìn thấy 01 chiếc điện thoại Sony Xperia XA1 Ultra màu đen đang sạc pin để trên bàn thu ngân đặt trong cửa hàng nên nảy sinh ý định trộm cắp. V lén lút đi đến lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, sau đó chở chị Vy về nhà. Khoảng hai ngày sau, V đem điện thoại đến gửi mẹ vợ là bà Nguyễn Thị Th và nói là điện thoại nhặt được nên nhờ bà Th giữ giùm.

Đến ngày 03/11/2017, anh Đặng Quang Đ (là nhân viên cửa hàng điện thoại Cellphone S) phát hiện bị mất điện thoại Sony của cửa hàng nên đã trích xuất xem lại hình ảnh camera và xác định được đối tượng trộm cắp điện thoại là Nguyễn Đại V nên đến Công an trình báo, Công an Phường 5, Quận 3 lập hồ sơ rồi chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 điều tra, xử lý.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, V khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2018/HSST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); xử phạt bị cáo Nguyễn Đại V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/5/2018, bị cáo Nguyễn Đại V có đơn kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2018/HSST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xin xem xét lại toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đại V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo vì bản thân phạm tội lần đầu, bị bệnh HIV, đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa thành người có ích cho xã hội để nuôi con còn nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã kết luận đủ căn cứ xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đại V về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 là đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo V kháng cáo trong thời gian luật định và hợp lệ nên cần được xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức án 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Đại V là phù hợp; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng xin được hưởng án treo để có điều kiện được tiếp tục chữa bệnh và nuôi con còn nhỏ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đại V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm và bản cáo trạng truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản vụ việc, biên bản thu giữ đồ vật - tài liệu, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người bị hại cùng các biên bản về hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra.

Đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12hh30’ ngày 30/10/2017, bị cáo Nguyễn Đại V đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Sony Xperia AX1Ultra màu đen của anh Đặng Quang Đ tại cửa hàng điện thoại Cellphone S - số 363 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt: Theo kết luận định giá tài sản số 165/KL- HĐĐGTS-TTHS ngày 04/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3 kết luận: 01 chiếc điện thoại Sony Xperia AX1 Ultra màu đen, hàng mới chưa sử dụng, có trị giá 8.490.000 đồng.

Với trị giá tài sản chiếm đoạt và hành vi của bị cáo V nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố và xét xử bị cáo Nguyễn Đại V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/5/2018, bị cáo V có đơn kháng cáo là làm trong thời hạn luật định và hợp lệ.

Xét, về nội dung kháng cáo: khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định về các tình tiết như: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi giao trả cho chủ sở hữu nên gây thiệt hại không lớn và tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm các điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tương ứng với các điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng các điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là chưa chính xác. Tuy nhiên, mức án xử phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị áp dụng đối với bị cáo V là phù hợp nên không cần thiết phải sửa bản án mà điều chỉnh lại điều luật áp dụng về các tình tiết giảm nhẹ cho đúng với các tình tiết khách quan của vụ án. Cấp sơ thẩm cần lưu ý trong việc áp dụng pháp luật.

Về nhân thân: bị cáo V từng bị xử lý hành chính, đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng vẫn không chịu sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Với động cơ vụ lợi bất chính lại lao vào con đường phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, thì mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Đại V 06 (sáu) tháng tù là thỏa đáng; mới đủ tác dụng để răn đe, giáo dục bị cáo V trở thành người có ích cho xã hội nói riêng và công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

Tại phiên tòa, bị cáo V xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo vì bản thân bị bệnh HIV, đang tham gia chương trình điều trị cai nghiện bằng thuốc Methadone và không có thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới; nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc bị cáo V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại V và giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa điều luật áp dụng về các tình tiết giảm nhẹ.

Tuyên bố: Nguyễn Đại V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); các điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 281/2018/HS-PT ngày 12/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:281/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về