Bản án 28/2019/HS-ST ngày 30/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 28/2019/HS-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25.1/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Trần Nhật P; sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: đường N, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình D và bà: Trần Thị Ngọc D; tiền án: 01 (ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/01/2017 bị Công an Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 47762/QĐ-XPHC; bị giữ ngày:03/01/2019; tạm giữ ngày: 03/01/2019; tạm giam ngày: 05/01/2018. (Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Bà Trần Thu H – Sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Đa chỉ: đường C, Phường D, Quận O, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 20 giờ 00 phút ngày 01/01/2019, Lê Trần Nhật P điều khiển xe môtô biển số 52K8-9490 đến thuê phòng số 101 khách sạn B – địa chỉ: đường C, Phường D, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 04 giờ 00 phút ngày 02/01/2019, do không có tiền để trả tiền phòng nên P tìm cách trốn ra ngoài. P leo ra tấm đan (bệ bê tông) của cửa sổ phòng số 101 khách sạn B để trèo lên tấm đan của cửa sổ lầu 2 nhà đối diện (nhà B đường C, Phường D, Quận O). P đẩy cửa sổ vào (cửa sổ không khóa) thì nhìn thấy 01 chiếc túi màu xám đặt trên ghế sát cửa sổ. P nảy sinh ý định chiếm đoạt. P lén lút dùng tay lấy chiếc túi màu xám và quay trở về phòng số 101. Sau khi về phòng số 101, P kiểm tra chiếc túi vừa trộm cắp được thì thấy bên trong là 01 chiếc laptop hiệu Macbook Air. Sau đó, P cất chiếc túi màu xám chứa laptop bên trong vào balo của mình rồi đi ngủ. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 02/01/2019, P lấy balo và mở cửa sổ phòng số 101 bước ra tấm đan để nhảy xuống đất thì bị anh Lưu Hồng S (lễ tân khách sạn B) P hiện liền báo Công an Phường 12, Quận 10. Qua kiểm tra, Công an Phường 12, Quận 10 thu giữ trong balo của P chiếc túi màu xám bên trong chứa laptop hiệu Macbook Air. Sau đó, chị Trần Thu H (cư trú tại nhà B đường C, Phường D, Quận O) P hiện bị mất chiếc laptop Macbook Air nên đến Công an Phường 12, Quận 10 trình báo vụ việc; Công an Phường 12, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Tài sản bị chiếm đoạt là 01 máy laptop hiệu Macbook Air màu xám đựng bên trong 01 chiếc túi màu xám. Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐGTS ngày 08/01/2019 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự – Ủy ban nhân dân Quận 10 kết luận: Máy laptop hiệu Macbook Air trị giá 10.000.000 đồng. Cơ quan Công an đã trả lại tài sản cho chị Trần Thu H. Nhận lại tài sản, chị H không có yêu cầu gì khác.

Quá trình điều tra, Lê Trần Nhật P khai nhận hành vi như trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã giữ khẩn cấp và sau đó quyết định khởi tố, điều tra đối với Lê Trần Nhật P về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Đi với 01 xe môtô hiệu Wave biển số 52K8-9490, số khung: 209485-Y, số máy: 0209507-HCO8E. Lê Trần Nhật P khai mượn chiếc xe trên của một người tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ). Qua xác minh, chiếc xe do bà Nguyễn Thị Thiện M đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà M đã định cư nước ngoài từ năm 2005. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai liên hệ làm việc; hiện đã tạm giữ lại.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Lê Trần Nhật P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo Lê Trần Nhật P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (tái phạm), giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 53; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Trần Nhật P: từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, bị hại, nội dung biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ được, bản kết luận định giá trị tài sản, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Trần Nhật P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, trị giá:

10.000.000 đồng; do vậy bị cáo bị truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; ngoài ra bản thân bị cáo có đặc điểm nhân thân, cụ thể: Ngày 06/01/2017 bị Công an Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST), chưa được xóa án tích; bị cáo đã bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý, nhưng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý, hành vi này là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do đã được xóa án tích.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại bị hại; do vậy không có gì để Tòa giải quyết.

Về vật chứng: Đối với 01 xe môtô biển số 52K8-9490 (Số khung: RLHHC08042Y209485, số máy: HC08E-0209507), Lê Trần Nhật P khai mượn chiếc xe trên của một người tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ). Qua xác minh, chiếc xe do bà Nguyễn Thị Thiện M đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà M đã định cư nước ngoài từ năm 2005. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai liên hệ làm việc. xét thấy chiếc trên không phải phương tiện dùng vào việc phạm tội; do vậy chuyển giao cho Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền hành chính.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Nhật P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; khoản 1 Điều 53; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Trần Nhật P;

Xử phạt bị cáo Lê Trần Nhật P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2019.

Phạt bổ sung bị cáo P 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), nộp ngân sách Nhà nước.

- Chuyển giao cho Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền hành chính: 01 xe môtô biển số 52K8-9490 (Số khung: RLHHC08042Y209485, số máy: HC08E-0209507).

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2019 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HS-ST ngày 30/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:28/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 10 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về