Bản án 285/2019/DS-ST ngày 02/10/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 285/2019/DS-ST NGÀY 02/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V (V)

Địa chỉ: Số 89 L H, phường L H, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn quản lý tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần V N T V kiêm phó giám đốc khối Pháp chế và kiểm soát tuân thủ.

Theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018.

Ông Đỗ Thành T ủy quyền cho: Nguyễn Trung T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Tầng 2, số 96 C T, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. 

Theo văn bản ủy quyền số 69383/2019/UQ-PGDK ngày 17/6/2019

*Bị đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ 18, ấp T P, xã T L T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

(Có mặt anh T, vắng mặt chị L)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/7/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V N T V (V) trình bày: Ngân hàng đã cấp tín dụng cho chị Nguyễn Thị L. Theo đó, hợp đồng tín dụng mà chị L đã ký với Ngân hàng là hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 29/11/2016, số tiền vay là 30.000.000đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân (Căn cứ theo giấy vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử ký ngày 11/11/2016), theo phương thức dư nợ giảm dần, trả dần lãi và gốc hàng tháng, lãi suất tại thời điểm cho vay là 34%/năm, sau đó được điều chỉnh theo từng thời kỳ với chu kỳ 3 tháng/1 lần. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Nguyễn Thị L đã thanh toán được 03 kỳ với số tiền 17.348.000đồng, trong đó thanh toán nợ gốc là 12.497.253đồng, nợ lãi là 4.850.747đồng. Kể từ ngày 29/01/2017 chị L ngưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng yêu cầu chị L phải trả cho Ngân hàng tiền vốn là 17.502.747đồng và tiền lãi đến ngày 02/10/2019 là 29.357.503đồng, tổng cộng là 46.860.250đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo cho đến khi chị L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Ti bản khai ngày 29/8/2019 bị đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Vào năm 2016 chị có ký hợp đồng với Ngân hàng Thương mại cổ phần V N T V để vay 30.000.000đồng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo hợp đồng. Sau khi vay chị có trả cho Ngân hàng được 16.000.000đồng, số tiền còn lại đến nay chưa trả. Nay chị đồng ý trả tiền cho Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn chị xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng, bắt đầu trả từ tháng 9/2019 cho đến khi hết số nợ.

Ti phiên tòa, anh Nguyễn Trung T là đại diện ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần V N T V vẫn giữ yêu cầu chị Nguyễn Thị L trả cho Ngân hàng số tiền 46.860.250đồng làm 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật và trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 03/10/2019 cho đến khi chị L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V N T V buộc chị Nguyễn Thị L trả cho Ngân hàng số tiền 46.860.250đồng, trong đó tiền vốn là 17.502.747đồng và tiền lãi đến ngày 02/10/2019 là 29.357.503đồng, thanh toán 01 lần và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 03/10/2019 cho đến khi chị L thanh toán xong số nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xác định tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn chị Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L.

[2] Về nội dung: Xét thấy, vào ngày 11/11/2016 chị Nguyễn Thị L và Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V có ký hợp đồng tín dụng căn cứ theo giấy vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử, bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và xác nhận chấp thuận cho vay của ngân hàng để vay số tiền 30.000.000đồng. Hai bên thống nhất về thời điểm xác lập hợp đồng, số tiền vay, lãi suất vay và phương thức trả tiền vay. Nay Ngân hàng yêu cầu chị Nguyễn Thị L trả số tiền vốn là 17.502.747đồng và tiền lãi là 29.357.503đồng là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ tuy khoản vay được giải ngân ngày 19/11/2016 còn khoản nợ chưa đến hạn nhưng do chị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ , không trả nợ đúng kỳ nên Ngân hàng có quyền thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của chị L và các khoản nợ gốc, lãi sẽ là nợ quá hạn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 , điều 7 của Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử mà hai bên đã thỏa thuận mặc khác, tại bản khai ngày 29/8/2019 chị Nguyễn Thị L đã thừa nhận có vay Ngân hàng, đồng ý trả tiền theo yêu cầu của Ngân hàng nhưng xin trả dần số nợ do hoàn cảnh khó khăn. Xét yêu cầu xin trả dần của chị L là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, gây thiệt hại đến quyền lợi của Ngân hàng, phía anh Nguyễn Trung T là đại diện ủy quyền của Ngân hàng cũng không đồng ý cho chị L trả dần số tiền nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Do đó, cần buộc chị Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn là 17.502.747đồng và tiền lãi là 29.357.503đồng, tổng cộng là 46.860.250đồng.

[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật đối với yêu cầu của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V (V) Buộc chị Nguyễn Thị L trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V số tiền 46.860.250đồng (Bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi ngàn hai trăm năm mươi đồng). Thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Chị Nguyễn Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với chị L cho đến khi chị L thanh toán xong số nợ.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 2.343.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V số tiền tạm ứng án phí là 1.059.000đồng theo biên lai thu số 0009782 ngày 21/5/2019 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần V N T V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về