Bản án 29/2015/DS-PT ngày 21/10/2015 về đòi nhà cho ở nhờ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

ÁN 29/2015/DS-PT NGÀY 21/10/2015 VỀ ĐÒI NHÀ CHO Ở NHỜ

Ngày 21 tháng 10 năm 2015 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2014/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2014, do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn đối với bản án dân sự sơ thẩm số 71/2014/DS-ST ngày 24/09/2014 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 828/2015/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2015 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Minh Thành, sinh năm 1951

Ông Trịnh Khắc Vân, sinh năm 1949

Cùng trú tại: Số nhà 54, phố Đào Duy Từ, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Quang Mỹ và bà Phạm Thị Hương - Luật sư Công ty Luật Hùng Vương; Địa chỉ: Số 37, Lê Hồng Phong, quận Ba Đình, Hà Nội.

Bị đơn: Ông Cao Thành Công, sinh năm 1957

Bà Cao Thanh Sơn Ca, sinh năm 1955

Bà Cao Thanh Oanh, sinh năm 1948.

Cùng trú tại: P105, tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước Thịnh Hào 1, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là ông Cao Thành Công: Bà Trần Hồng Phúc và bà Hà Thị Thúy Quỳnh - Luật sư Công ty Luật TNHH thực hành luật Nguyễn Chiến; địa chỉ: Số 52, phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hoàng Thế Vinh, sinh năm 1969;

2. Chị Trương Thị Thanh Thiên; sinh năm 1975 và con là Hoàng Thị Ánh Nguyệt, sinh ngày 13/4/2004; Hoàng Thái Dương, sinh ngày 14/02/2008 (là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Hoàng Thế Hiển, chết ngày 03/01/2015); địa chỉ: thôn Hoàng Viễn, xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

3. Chị Trần Thị Bình, sinh năm 1991 và con là Hoàng Minh Châu, sinh ngày 20/01/2010 (là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Hoàng Minh Giang, anh Giang chết ngày 28/02/2012);

4. Chị Hoàng Thị Thanh Vân, sinh năm 1975;

5. Anh Hoàng Việt Anh, sinh năm 1979;

6. Anh Hoàng Việt Tiến, sinh năm 1981;

Cùng trú tại: P105, tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước Thịnh Hào 1, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Hà Nội.

Ông Hoàng Thế Vinh, chị Trần Thị Bình, chị Hoàng Thị Thanh Vân, anh Hoàng Việt Tiến ủy quyền cho ông Cao Thành Công.

7. Bà Vũ Thị Khánh; sinh năm 1957; địa chỉ: số 64 Hàng Giấy, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

8. Chị Bùi Thùy Linh; sinh năm 1980; địa chỉ: số 64 Hàng Giấy, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

9. Chị Bùi Kiều Trinh; sinh năm 1985; địa chỉ: số 64 Hàng Giấy, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

10. Chị An Thanh Thủy; sinh năm 1968; địa chỉ: Số nhà 9, ngõ 24 Thổ Quan, phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

11. Chị Bùi Thanh Thúy; sinh năm 1994; địa chỉ: Số nhà 9, ngõ 24 Thổ Quan, phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Bà Khánh, chị Linh, chị Trinh, chị Thủy, chị Thúy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang Trung; sinh năm 1938, địa chỉ: số 64 Hàng Giấy, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; chết ngày 22 tháng 5 năm 2015.

12. Chị Trịnh Ngọc Anh, sinh năm 1977 (con ông Vân, bà Thành);

13. Anh Trịnh Duy Linh, sinh năm 1979 (con ông Vân, bà Thành);

14. Chị Ngô Thanh Mai, sinh năm 1984 (con dâu ông Vân, bà Thành);

Cùng trú tại: Số nhà 54, phố Đào Duy Từ, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 24/7/2001 của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Nhà đất tại số 54 Đào Duy Từ là của cụ Phạm Thị Minh Luân và cụ Bùi Văn Thuận (bố mẹ của bà Thành) mua năm 1941 và xây dựng năm 1943, mang bằng khoán điền thổ 172 khu Đồng Xuân, Hà Nội.

Năm 1962, cụ Luân mất, có chúc thư trao lại toàn bộ ngôi nhà cho cụ Thuận. Năm 1979, bà Thành và cụ Thuận đã làm thủ tục sang tên thừa kế ngôi nhà trên tại Sở nhà đất (trước bạ quyển số 5, tờ 165, số 617 ngày 04/11/1980).

Năm 1986, cụ Thuận viết tay giấy xin sang tên ngôi nhà 54 Đào Duy Từ cho bà Thành được thừa hưởng toàn bộ. Các giấy tờ trên đã được Viện khoa học hình sự xác nhận chữ ký và chữ viết đều là của cụ Thuận.

Năm 1954, 1955 cụ Thuận và cụ Luân cho vợ chồng ông Cao Thành Tâm, bà Phạm Thị Hòa (là bố mẹ của bị đơn) ở nhờ căn buồng tầng 2 có diện tích 33m2. Những năm trước đây, ông Tâm, bà Hòa có trả tiền điện, nước cho gia đình bà. Đến năm 1978 thì không trả tiền nữa nhưng gia đình bà vẫn cho ở nhờ. Năm 1976 ông Tâm chết, năm 1987 bà Hòa chết. Ngày 01/01/2000, gia đình bà Thành đã gửi thông báo về việc đòi nhà cho ở nhờ đối với gia đình ông Công và gửi cả Ủy ban nhân dân phường Hàng Buồm; đồng thời bà Thành đã chủ động đề nghị hai gia đình cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận nhưng đến nay gia đình ông Công không có thiện chí giải quyết. Nay nguyên đơn yêu cầu ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca và các con họ phải trả nhà cho nguyên đơn.

* Bị đơn là ông Cao Thành Công và ông Công đại diện cho các bà Cao Thanh Sơn Ca, Cao Thanh Oanh trình bày:

Nhà số 54 Đào Duy Từ do vợ chồng cố Phạm Quang Thu và cố Vũ Thị Nga (bố mẹ của cụ Luân) mua năm 1938. Đến năm 1941-1943 xây dựng cho 02 con là cụ Phạm Thị Minh Luân và cụ Phạm Quang Trình ở, nhưng công sức xây dựng chủ yếu là cụ Trình (vợ là Phạm Thị Luyến). Năm 1943 cụ Trình chết, cụ Luyến và 2 con gái là bà Hòa và bà Hợp vẫn ở tại căn nhà trên. Năm 1948, cụ Luân lấy cụ Thuận cũng về ở tại ngôi nhà này.

Quá trình sử dụng, cụ Luân và cụ Luyến đã tự phân chia: Cụ Luyến và các con cháu của cụ ở gian ngoài tầng 1 và gian ngoài tầng 2. Cụ Luân, cụ Thuận ở tầng 3; còn gian trong tầng 1 và gian trong tầng 2 cho ông Lãm và ông Phúc Long thuê để có thêm thu nhập vì cụ Thuận, cụ Luân không làm gì. Tuy nhiên, gia đình ông hiện tại chỉ ở 01 phòng, còn lại gia đình bà Thành đang quản lý, sử dụng. Sau khi cụ Luyến và bà Hòa (mẹ của ông) chết thì các con cháu vẫn sống tại đây; cụ Trình, cụ Luyến có đóng góp tiền của để xây dựng ngôi nhà.

Thực tế ngôi nhà này là di sản thừa kế của hai cố Thu, cố Nga để lại cho cụ Trình, cụ Luân. Từ đó đến nay gia đình ông chỉ sử dụng 01 phòng, còn lại bà Thành, ông Vân quản lý sử dụng. Căn phòng gia đình ông đang sử dụng rất chật chội, nếu coi như thừa kế thì không đủ. Nhưng gia đình ông chưa đặt vấn đề này ra, mà do vợ chồng bà Thành cố tình đưa ra pháp luật gây khó khăn cho gia đình ông. Mặt khác, ngày 03/6/1978 cụ Thuận đã viết giấy cho bà Hòa được sở hữu căn phòng đang có tranh chấp.

Năm 1951, bà Thành được cụ Luân nhận về làm con nuôi, khi mới 01-02 tháng tuổi. Nay bà Thành lại khước từ họ hàng, đuổi gia đình ông để chiếm trọn di sản của các cụ họ Phạm là không biết đến đạo lý. Gia đình ông không ở nhờ nên không chấp thuận yêu cầu của bà Thành.

* Ông Bùi Quang Trung (khi còn sống) xác định cụ Luân, cụ Thuận có 03 người con nuôi là ông Đạo, bà Thành và ông Trung (ông Đạo chết ngày 14/6/1977, không có vợ con). Ông Trung không chấp nhận các chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và không chấp nhận yêu cầu đòi nhà của phía nguyên đơn đối với bị đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02 ngày 17/01/2002, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội quyết định:

Bác đơn yêu cầu đòi nhà cho ở nhờ tại 54 Đào Duy Từ, Hà Nội của bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân đối với các bị đơn do ông Cao Thành Công đại diện.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo không chấp nhận quyết định của Bản án sơ thẩm và bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án sơ thẩm đã xác định hợp đồng tặng cho của cụ Thuận cho bà Hòa căn buồng 33m2 là hợp pháp nên cần tuyên bị đơn là chủ sở hữu của diện tích đó.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 38/2006/DSPT ngày 01 và 02/3/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 17/01/2002 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, chấp nhận yêu cầu đòi nhà ở nhờ của bà Bùi Minh Thành và ông Trịnh Khắc Vân.

Buộc ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca, bà Cao Thanh Oanh và những người có tên trong sổ hộ khẩu đang ở tại 54 Đào Duy Từ phải trả lại toàn bộ diện tích đang ở nói trên và những công trình mà gia đình ông Công, bà Ca, bà Oanh sửa chữa xây dựng vào diện tích ở nhờ tại số nhà 54 Đào Duy Từ cho bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân để chuyển về ở nhờ nhà bà Thành, ông Vân tại P105 khu tập thể Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tại ngõ Thịnh Hào 1, Đống Đa, Hà Nội.

Bản án dân sự phúc thẩm số 38/2006/DSPT ngày 01 và 02/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội được Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm thi hành án xong vào ngày 16/4/2008.

Bị đơn tiếp tục khiếu nại Bản án dân sự phúc thẩm số 38/2006/DSPT nói trên; ngày 26/02/2009 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định kháng nghị số 65/2009/KN-DS.

Tại quyết định Giám đốc thẩm số 177/2009/DS-GĐT ngày 18/5/2009 của Tòa dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án dân sự phúc thẩm số 38/2006/DS-PT ngày 01 và 02/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02 ngày 17/01/2002 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội về vụ án “Đòi nhà cho ở nhờ” giữa nguyên đơn là bà Bùi Minh Thành với bị đơn là ông Cao Thành Công. Giao hồ sợ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý vụ án số 27/2009/TLDS-ST ngày 09/7/2009 theo Quyết định giám đốc thẩm, sau có Quyết định chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền do ông Công đang ở Singapo.

Tại Bản án sơ thẩm số 53/2012/DS-ST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Bác đơn yêu cầu đòi nhà cho ở nhờ diện tích 33m2 tầng 2 tại số nhà 54 phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân (bà Thành ủy quyền cho ông Vân và bà Lê Kim Quy) đối với các bị đơn ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca, bà Cao Thanh Oanh do bà Cao Thanh Sơn Ca, ông Nguyễn Văn Thủy là đại diện và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 137/2013/DS-PT ngày 01/8/2013 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Hủy bản án sơ thẩm số 53/2012/DSST ngày 28/9/2012 về việc tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại vụ án với lý do Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu đòi nhà của nguyên đơn nhưng lại không xem xét luôn kết quả Thi hành án buộc nguyên đơn trả lại nhà cho bị đơn và cũng không xem xét đến việc các bị đơn đang sử dụng căn nhà tại phòng 105 tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Thịnh Hào 1, quận Đống Đa, Hà Nội của nguyên đơn từ năm 2008 là chưa giải quyết triệt để vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 71/2014/DS-ST ngày 24/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng Điều 170, Điều 256 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 56, 79, 131, 199, 238, 243, 245 của Bộ luật tố tụng dân sự xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu đòi nhà cho ở nhờ diện tích 33m2 tầng 2 tại số nhà 54 phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân đối với các bị đơn ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca, bà Cao Thanh Oanh và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

2. Buộc bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân và những người đang sử dụng phải trả lại ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca, bà Cao Thanh Oanh diện tích phòng ở tầng 2 và các diện tích phụ mà gia đình ông Công, bà Ca, bà Oanh đã sử dụng trước khi thi hành án năm 2008, tại số nhà 54 phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, thành phố hà Nội bao gồm các diện tích cụ thể như sau:

- Diện tích phòng ở tầng 2, phía ngoài nhìn ra trên mặt phố Đào Duy Từ có diện tích: (3,15m + 4,77m) x 4,95m = 39,2m2.

- Gác xép gỗ làm trên lối đi chung, phía trong, tầng 1 có diện tích: 4,38m x 1,22m = 5,34m2.

- Diện tích kho tại gầm cầu thang: 2,2m x 1,25m = 2,75m2.

3. Ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca, bà Cao Thanh Oanh và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác (đang cùng sử dụng nhà) trả lại bà Bùi Minh Thành, ông Trịnh Khắc Vân toàn bộ diện tích phòng 105 tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước, ngõ Thịnh Hào 1, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

4. Chi phí cải tạo, sửa chữa nhà tại diện tích tranh chấp tại số nhà 54 phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và phòng 105 tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước, ngõ Thịnh Hào 1, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2014, bị đơn là ông Cao Thành Công và bà Cao Thanh Sơn Ca có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại khoản tiền sửa chữa phòng 105 tập thể Ủy ban kế hoạch Nhà nước, ngõ Thịnh Hào 1, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

Ngày 14/10/2014, nguyên đơn là ông Trịnh Khắc Vân có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và trình bày cụ thể nội dung kháng cáo như sau:

 Thẩm phán sơ thẩm đã vi phạm tố tụng vì đã không thực hiện đúng trình tự, thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật; không làm tròn trách nhiệm; nguyên đơn đang chờ văn bản giải quyết khiếu nại của ông Chánh án nhưng vụ án vẫn được đưa ra xét xử; về nội dung, nguyên đơn không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bởi lẽ: nguồn gốc nhà đất tranh chấp là của bố mẹ nguyên đơn đã di chúc lại toàn bộ cho nguyên đơn từ năm 1980 và đến năm 1987 cụ Thuận lại khẳng định lại một lần nữa trong di chúc; Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện, chỉ căn cứ vào một số nhận định của cấp giám đốc thẩm là chưa đủ căn cứ; không xác minh chứng cứ; chứng cứ đã được giám định nhưng bên bị đơn khiếu nại đề nghị không chấp nhận kết quả giám định này lẽ ra phải cho các bên đối chất nhưng Tòa án sơ thẩm không thực hiện là vi phạm tố tụng; ông Trung có nhiều giấy tờ tùy thân không thống nhất về năm sinh nhưng cũng không được xem xét lại. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Bị đơn rút toàn bộ nội dung kháng cáo; không chấp nhận những lý do kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị Hội dồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm: Quyết định không chấp nhận yêu cầu thay đổi Thẩm phán số 1460 của Phó chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng sai pháp luật, Phó Chánh án không được ký quyết định trong trường hợp này; áp dụng Điều 391 BLTTDS để xác định nguyên đơn không có quyền khiếu nại cũng là không đúng pháp luật. Căn cứ Điều 192 BLTTDS, ông Vân vắng mặt tại phiên tòa lẽ ra phải hoãn vì đây là tình thế bất khả kháng;

Tòa án sơ thẩm cho rằng bà Thành không đủ tư cách khởi kiện là không đúng. Ông Trung trong vụ kiện này có 3 năm sinh khác nhau thể hiện ở các giấy tờ tùy thân nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu cung cấp chứng cứ; không tiến hành giám định. Ông Trung là con nuôi nhưng khi Luật sư tiến hành xác minh, tra cứu thì không có trường hợp nào thể hiện ông Trung là con nuôi, không xuất trình được Giấy khai sinh để chứng minh. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là không khách quan.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào nhận định của Quyết định giám đốc thẩm để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ; không nhận định kết quả giám định; không đối chất, không hòa giải là vi phạm thủ tục tố tụng; áp dụng các Điều 170, 266 là áp dụng không đúng pháp luật; nguyên đơn là người dân, hiểu biết pháp luật hạn chế nên đơn kháng cáo không đúng theo mẫu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Với những căn cứ đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn không hợp lệ, không đúng theo mẫu đơn đã được ban hành thống nhất thực hiện; nội dung đơn kháng cáo chỉ một mình ông Vân ký nên việc xem xét kháng cáo của bà Thành là không có căn cứ; các nội dung kháng cáo của nguyên đơn như về đánh giá chứng cứ trong vụ án này tài sản của cụ Luân là đúng, cụ Thuận đã sang tên, xác nhận quyền sở hữu, đã viết chúc thư cho bà Thành, ông Đạo (đã mất); con dấu đóng trên chúc thư năm 1948 không phải mẫu dấu thời điểm đó, người ký cũng không phải là Trưởng Khu và vì vậy nguyên đơn có dấu hiệu giả mạo chứng cứ và không nộp chứng cứ gốc để giám định theo yêu cầu của Tòa án cấp sơ thẩm. Một số yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đề nghị xem xét lại nhận định của cấp giám đốc thẩm và giải quyết vụ kiện như bản án phúc thẩm số 38/2006/DSPT ngày 02/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thì thấy rằng bản án này đã bị hủy hơn nữa xem xét lại nhận định của cấp giám đốc thẩm không thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm hôm nay. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 71/2014/DS-ST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kết luận: việc chấp hành tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật; kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn đúng thủ tục; tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đã rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn.

Vụ án này đã được giải quyết rất nhiều lần, qua nhiều cấp xét xử. Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng là Thẩm phán và đã được Phó Chánh án ký thay Chánh án tại Quyết định không chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng là đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 24/9/2014, nguyên đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do tiếp tục khiếu nại quyết định này. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự cho rằng Quyết định của Chánh án không chấp nhận yêu cầu thay đổi là quyết định cuối cùng, đương sự không có quyền khiếu nại là không đúng. Trường hợp này phải căn cứ Điều 396 Bộ luật tố tụng dân sự và khiếu nại của nguyên đơn phải được Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết trong vòng 15 ngày. Khi khiếu nại của nguyên đơn chưa được giải quyết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mở phiên tòa là không đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng thì lẽ ra phải được đình chỉ xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và chưa giải quyết khiếu nại yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào lời trình bày, tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao;

XÉT THẤY

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ”, còn thời hiệu để thụ lý, giải quyết vụ án là đúng qui định tại khoản 2 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nằm trong thời hạn luật định, nội dung phù hợp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn không theo mẫu quy định là không hợp pháp. Hội đồng xét xử thấy tuy đơn kháng cáo của nguyên đơn không theo mẫu nhưng đơn được gửi trong hạn luật định, nội dung phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo này để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Các bên đương sự có mặt hoặc ủy quyền hợp pháp. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các bên không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nguyên đơn kháng cáo cho rằng: Thẩm phán không vô tư trong khi làm nhiệm vụ; nguyên đơn đã xin hoãn phiên tòa vì đang khiếu nại Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn mở phiên tòa ngày 24/9/2014 thì có đảm bảo các điều kiện và nguyên tắc theo quy định của pháp luật? Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Ngày 21/7/2014, nguyên đơn, đại diện của đồng nguyên đơn là ông Trịnh Khắc Vân đã có đơn yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng là Thẩm phán Vũ Viết Văn với lý do “Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã cố tình bao che việc làm sai trái của bị đơn, đơn khởi kiện bổ sung cũng như tài liệu chứng cứ khác của nguyên đơn đã chứng minh yêu cầu khởi kiện nhưng không được xem xét…”. Ngày 11/8/2014, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (ký thay Chánh án) ban hành Quyết định số 1460/2014/QĐ-CA giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng đã không chấp nhận yêu cầu thay đổi của nguyên đơn. Không nhất trí với Quyết định này, trong các ngày 15/8, 5/9, 15/9, ông Trịnh Khắc Vân tiếp tục khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị được xem xét lại. Theo các phiếu chuyển đơn của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đều đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết đơn và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội biết kết quả.

Ngày 24/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tại phần thủ tục của phiên tòa này, ông Trịnh Khắc Vân vẫn đề nghị được hoãn phiên tòa với lý do khiếu nại Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của ông chưa được trả lời. Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của ông Vân nên ông Vân đã bỏ về và vắng mặt tại phiên tòa này. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192; điểm a khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong vụ án này, nguyên đơn đã có mặt khi Hội đồng xét xử tiến hành phần thủ tục, có yêu cầu xin hoãn phiên tòa với lý do khiếu nại Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của ông chưa được trả lời. Lý do xin hoãn phiên tòa trong trường hợp này của ông Trịnh Khắc Vân là lý do chính đáng, có căn cứ bởi lẽ: Theo Hướng dẫn liên ngành số 24/HD-VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP ngày 08/5/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn về việc phân loại đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thì khiếu nại Quyết định thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa của Chánh án Tòa án theo Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp trên trực tiếp theo quy định tại Điều 396 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, khiếu nại Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của ông Trịnh Khắc Vân trong trường hợp này phải được chuyển đến Tòa án cấp trên trực tiếp (là Tòa án nhân dân tối cao nay là Tòa án nhân dân cấp cao) xem xét giải quyết theo thẩm quyền. Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận đơn khiếu nại Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của Chánh án TAND thành phố Hà Nội (do Phó Chánh án ký thay) nhưng không chuyển đơn lên Tòa án cấp trên trực tiếp để trả lời cho đương sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng lại căn cứ Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự trong trường hợp này để cho rằng Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là quyết định cuối cùng là không đúng pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn trong trường hợp này là không khách quan, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tố tụng, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Kháng cáo của nguyên đơn về phần này là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có thiện chí thương lượng, hòa giải với nguyên đơn, Hội đồng xét xử cũng đã giành thời gian để hai bên thương lượng, thỏa thuận tuy nhiên hai bên không thống nhất được cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Xét thấy, vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm như đã nêu trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Những vấn đề nguyên đơn kháng cáo về phần nội dung của vụ kiện sẽ được xem xét, giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Bị đơn rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo của nguyên đơn, được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn lại tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm của các nguyên đơn sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 260; Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca.

2. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 71/2014/DS-ST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại vụ án.

3. Về án phí: Ông Cao Thành Công, bà Cao Thanh Sơn Ca mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông Công, bà Ca đã nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 04183, 04184 đều ngày 10/10/2014 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Ông Trịnh Khắc Vân không phải nộp án phí phúc thẩm; hoàn trả lại ông Vân 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 04189 ngày 14/10/2014 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. 

Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm của nguyên đơn sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


575
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2015/DS-PT ngày 21/10/2015 về đòi nhà cho ở nhờ

Số hiệu:29/2015/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/10/2015
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về