Bản án 29/2017/KDTM-PT ngày 26/12/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 29/2017/KDTM-PT NGÀY 26/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 26/12 /2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số  13/2017/TLPT- KDTM ngày 25 tháng 7 năm 2017.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 29/2017/KDTM-ST ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 687/QĐ-PT ngày 21/8/2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 760/2017/QĐ-PT ngày 08/9/2017, Thông báo thay đổi lịch phiên tòa ngày 15/9/2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 848/2017/QĐ-PT ngày 06/10/2017, Thông báo mở lại phiên tòa số 989/TB-TA ngày 03/11/2017, Thông o thay đổi lịch phiên tòa số 1113/TB-TA ngày 04/12/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên  đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ  phần  Đ,  đa chỉ  trụ  sở  chính: Tháp BIDV, số  35 A, quận B, thành phố  Hà Nội; trụ  sở  chi nhánh: Số  320 C, phường D, quận E, thành phố  Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Trần Văn T- Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh H (văn bản uỷ quyền số 227/QĐ-BIDV.LT ngày 21 tháng 6 năm 2017); có mặt.

- Ông Hồ Quang H, trú tại số 15A1 G, phường H, quận I, thành phố Hải Phòng (văn bản ủy quyền số 213/QĐ.BIDV.LT ngày 15/6/2016); có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H và chị Nguyễn Thị Minh P; cùng trú tại:

Thôn 2 I, xã K, huyện L, thành phố Hải Phòng;

Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Minh P: Anh Nguyễn Thế H, trú tại: Thôn 2 I, xã K, huyện L, thành phố Hải Phòng (văn bản uỷ quyền ngày 05/12/2016); có mặt.3. Người có quyền li, nghĩa v liên quan:

- Ông Phạm Văn T và bà Bùi Th  D; cùng trú tại: Thôn N, xã M, huyện L, thành phố  Hải Phòng; ông T có mặt, bà D vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn T: Bà Bùi Thị D, trú tại: Thôn N, xã M, huyện L, thành phố Hải Phòng (Văn bản uỷ quyền ngày 30/3/2017); có mặt.

Ngưi bo v  quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị  D và Phạm Văn T: Bà  Đinh Thị  H, Luật sư  của Công ty Luật Trách nhiệm Hữu hạn H thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

- Phạm Th  D,  địa chỉ: Thôn 1, xã K, huyện L, thành phố  Hải Phòng; vắng mặt.

-  Đặng Thị  Đ,  đa chỉ: Phố  Mới, Thôn 3, xã K, huyện L, thành phố  Hải Phòng; vng mặt.

- Văn phòng Công chứng  Đ,  địa chỉ: Số  28 phố  O, Quận E, thành phố  Hải Phòng;

Người đại diện hợp pháp của Văn phòng Công chứng Đ: Ông Tạ Ngọc B, trú tại: Số 141 H, quận I, thành phố Hải Phòng (văn bản uỷ quyền số 28/UQ- CCĐC ngày 28/4/2017); có mặt.

4. Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ, Văn phòng Công chứng Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ  án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đi diện hợp pháp của nguyên  đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ  phần Đ (Ngân hàng) trình bày:

Ngày 12/10/2011, Ngân hàng vi anh Nguyễn Thế  Hvà chị  Nguyễn Thị Minh P có ký Hợp  đồng tín dụng số  N.C0251.11/HĐTD đ giải ngân cho vợ chồng anh H vay số tiền là 1.500.000.000 đng. Mục đích đ bổ sung vốn lưu động kinh doanh, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất theo thỏa thuận; tài sản thế  chấp là Quyền sử dụng đt diện tích 74,25m2  tại tha đất số 01, tờ  bản đ số 02, thôn Thủy Tú, xã Thủy Đường, huyện Thuỷ Nguyên, đng tên chủ sử dụng là ông

Phạm Văn T và bà Bùi Th  D, đưc Uỷ  ban nhân dân huyện L, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chng nhn quyền s  dụng số  BG267877 ngày 21 tháng 7 năm 2011. V chồng ông T không trực tiếp kí thế chấp mà ủy quyền cho bà Phạm Thị D kí thế  chấp thể hiện tại Hợp đồng ủy quyền số  3368/HĐUQ.2011 ngày 11 tháng 10 năm 2011 lp tại Văn phòng Công chứng  Đ.

Trên  sở Hợp đồng  ủy quyền này, ngày 12 tháng 10 năm 2011 bà Phạm Th D đã đại diện cho ông T và bà Bùi Thị  D kí Hợp  đồng thế  chấp tài sản số 0251.11/HĐTC3 đưc công chứng tại Văn phòng Công chứng  Đ,  đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12 tháng 11 năm 2011.

Quá trình thc hin hợp đồng tín dụng, đến tháng 4 năm 2012 anh H và chị P vi phạm nghĩa vụ  trả nợ, toàn bộ  khoản vay  đã chuyển thành nợ quá hạn; Ngân hàng Đu tư và Phát triển đã tạo điu kiện kéo dài thời gian trả nợ nhưng đến nay đã quá thời hạn gia hạn mà anh H, chị  P không thực hiện  được nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H, chị  P trả  nợ cho Ngân hàng số tiền đến ngày xét xử  sơ thẩm là 2.711.916.037  đồng (trong  đó nợ gốc là 1.500.000.000  đng, lãi trong hạn là 904.488.953  đng, lãi quá hạn là 307.427.083  đồng). Trường hợp không trả được nợ thì đ nghị  phát mại tài sản thế chấp.

Các li khai trong quá trình gii quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là chị Nguyễn Thị Minh P và anh Nguyễn Thế  Hđng ý vi li trình bày của nguyên đơn về việc ký Hợp  đng tín dụng số  N.C0251.11/HĐTD ngày 12/10/2011, nhưng không đng ý với yêu cầu của Ngân hàng buộc vợ  chồng anh H phải thanh toán số  tiền 2.711.916.037 đng, vì số  tiền 1.500.000.000đ anh chị vay hộ  bà  Đặng Thị  Đ. Bà Đ trực tiếp nhận tiền tại Ngân hàng và trả  nợ  hàng tháng, chưa khi nào anh H, chị  P trả nợ Ngân hàng. Việc Ngân hàng khởi kiện, anh chị đã thông báo với bà Đ, đ nghị bà Đ phải có trách nhiệm trả nợ và yêu cầu Tòa án phát mại tài sản thế chấp là Thửa đất số  01 đ Ngân hàng thu hồi nợ.

Lời khai ca nhng ngưi có quyn li, nghĩa v  liên quan như  sau trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm như  sau:

Ông Phm Văn T là bà Bùi Th  D trình bày:

Ông bà quan h  làm ăn kinh tế  với bà  Đặng Thị  Đ; thửa  đất số  01 tại thời điểm trước khi kí Hợp  đồng  ủy quyền số  3368 là của bà  Đ, ông bà chỉ  là người đứng tên hộ. Khoảng hơn một tháng sau khi kí Hợp  đng  ủy quyền số  3368 do bà Đ  nợ  tiền ông bà nên  đã gán nợ  cho ông bà thửa  đt số  01 nhưng không làm thủ tục, không lập giấy tờ  vì thửa  đất  đã  đứng tên ông bà. Do bà  Đ  có quan hệ  làm  ăn với bà Phạm Thị  D nên bà  Đ nói với ông bà  ủy quyền cho bà Phạm Thị  D thế chấp cho khoản vay của bà D  ở  ngân hàng nên  đã kí Hợp đồng  ủy quyền số  3368, ông bà không chung tài sản với bà Phạm Thị  D như  trong Hợp đồng ủy quyền nêu và chỉ  đồng ý cho bà D thế  chấp cho khoản vay của bà D chứ  không  đồng ý đ  bà  đem tài sn đi thế chấp cho khoản vay của người khác. Vợ chồng ông T không quen biết anh H và chị P, không biết bà Phạm Thị  D thế  chấp tài sản cho khoản vay của anh H, chị  P. Nếu biết ông bà sẽ  không  đồng ý. Chỉ  đến khi Tòa án thông báo thì ông bà mới biết nội dung sự  việc. Khi sang Phòng Công chứng, Công chứng viên không giải thích, không hướng dẫn các bên kí từng trang của hợp đồng.

Vợ chồng ông T khẳng định việc bà Phạm Thị D và Ngân hàng kí hợp  đng thế chấp thửa  đt số  01 là giao dịch giả  tạo nhằm che giấu hợp đồng  ủy quyền, vượt quá phạm vi ủy quyền ban đu nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của ông bà  đi với khoản vay của bị đơn, không chấp nhận xử  lý phát mại tài sản cho khoản vay của anh H, chị  P. Yêu cầu Tòa án tuyên bố  Hợp  đng  ủy quyền số  3368 và Hợp  đng thế  chấp tài sản số  0251 vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu vì vợ  chồng bà không bị  thiệt hại gì về vật chất và  đ nghị Ngân hàng  Đu tư  và Phát triển trả  lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng Thửa  đt số 01 cho vợ chồng bà sử dụng.

Bà Phạm Thị D khai: Bà có quen biết bà Đặng Thị Đ. Bà không có quan hệ quen biết gì với bà Bùi Thị D vào ông Phạm Văn T. Vào thời gian bà không nhớ, bà Đ bảo bà sang phòng công chứng để ký Hợp đồng ủy quyền thế chấp tài sản với nội dung là bà được quyền dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là 74,25m2  đứng tên chủ sử dụng là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị D. Tại Phòng công chứng, bà và bà Bùi Thị D, ông Phạm Văn T đã ký Hợp đồng ủy quyền. Sau khi ký Hợp đồng ủy quyền, bà D ký Hợp đồng thế chấp cho khoản vay của chị Nguyễn Thị  Minh Phương và anh Nguyễn Thế H. Nay bà được Tòa án thông báo cho biết việc khởi kiện của Ngân hàng đối với anh H, chị P, bà yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Đặng Thị Đ khai: Bà không đồng ý với lời khai của bị đơn và của bà Bùi Thị D vì bà không biết việc vay vốn của anh H, chị P tại Ngân hàng, không liên quan và không có quyền sở hữu đối với tài sản là thửa đất số 01. Yêu cầu Tòa án căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của Văn phòng Công chứng Đ trình bày:

Quá trình thực hiện việc công chứng và căn cứ pháp lý khi công chứng Hợp đồng ủy quyền số 3368 đúng quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Công chứng. Văn phòng Công chứng Đ đã phát hiện thấy tám từ “và bên được ủy quyền hiện là đồng sở hữu tài sản” trong Hợp đồng ủy quyền số 3368 là thừa nên vô nghĩa nhưng theo quy định tại Điều 43 của Luật Công chứng năm 2006 đây chỉ là lỗi kĩ thuật do đánh máy không làm ảnh hưởng tới các bên tham gia giao dịch và lỗi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Việc các bên không kí vào trang 1 của hợp đồng là không vi phạm và phù hợp với khoản 3 Điều 36 của Luật Công chứng năm 2006. Vì vậy, Hợp đồng ủy quyền số 3368 không vô hiệu nên không đặt vấn đề giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu. Văn phòng Công chứng Đ không đồng ý với yêu cầu của bà Bùi Thị D và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D và ông T.

Tại Bản án số 29/2017/KDTM-ST ngày 16/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

1. Chấp nhn một  phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Nguyễn Thế  Hvà chị  Nguyễn Thị  Minh P phải thanh toán trả  cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo Hợp đồng tín dụng số  N.C.0251.11/HĐTD ngày 12 tháng 10 năm 2011 với tổng số tiền tính đến ngày 16 tháng 6 năm 2017 là 2.711.916.037. Trong đó nợ gốc là 1.500.000.000, nợ lãi trong hạn là 904.488.953, nợ lãi quá hạn là 307.427.083.

2. Không chấp nhn yêu cầu phát mại tài sản thế  chấp là Quyền sử  dụng  đt diện tích 74,25m2   ti tha  đt số  01, tờ  bản  đ  số  02, thôn Thủy Tú, xã Thủy Đường, huyện Thuỷ  Nguyên,  đứng tên chủ  sử  dụng là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D,  được Uỷ  ban nhân dân huyện L, thành phố  Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số  BG267877 ngày 21 tháng 7 năm 2011.

3. Hợp  đồng  ủy quyền thế  chấp tài sản số  công chứng 3368 ngày 11 tháng 10 năm 2011  được lập tại Văn phòng Công chứng  Đ  và Hợp  đng thế  chấp tài sản số  0251.11/HĐTC3 ngày 12 tháng 10 năm 2011  được công chứng tại Văn phòng Công chứng  Đ  là vô hiệu; Ngân hàng Thương mại Cổ  phần  Đ  có trách nhiệm trả lại cho ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D Giấy chứng nhận quyền sử  dụng số BG267877 do Uỷ ban nhân dân huyện L, thành phố Hải Phòng cấp cho chủ sử dụng là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị D ngày 21 tháng 7 năm 2011.

 

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/6/2017, Ngân hàng TMCP Đ có đơn kháng cáo đề nghị: Hủy một phần Bản án sơ thẩm. Giải quyết lại vụ án theo hướng trong trường hợp bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối BIDV thì buộc bên bảo đảm thực hiện thay nghĩa vụ cho bên vay ốn bao gồm cả việc kê biên phát mại tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật.

 

Ngày 28/6/2017, Văn phòng Công chứng Đ có đơn kháng cáo với lý do: Bản án sơ thẩm chưa xem xét khách quan, toàn diện trong việc đánh giá thu thập chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thu hồi nợ và uy tín hành nghề của Văn phòng Công chứng Đ.

 

Ngày 07/9/2017, Văn phòng Công chứng Đ yêu cầu cấp phúc thẩm bổ sung người tham gia tố tụng là Văn phòng Đăng ký đất đai Tài nguyên và Môi trường – Chi nhánh L và Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Tài nguyên và Môi trường Chi nhánh L với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

 

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khời kiện, Văn phòng Công chứng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

 

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

 

V  Hợp  đng  ủy quyền: Trong quá trình soạn thảo hợp  đng  ủy quyền tại Điều 1 của Hợp  đng  được ký giữa bên  ủy quyền là ông Phạm Văn T và vợ  là bà Bùi Thị  D  được Văn Phòng Công chứng  Đ  chứng nhận  đã có sai sót trong quá trình  đánh máy trong nội dung hợp  đồng:  “Bên  y quyền và bên  đưc  y quyền hiện là  đng chủ  sở  hữu, sử  dụng bất  đng sản tại….”.  Theo quan  điểm của Ngân hàng thì chỉ  là sai sót lỗi kỹ thuật trong quá trình  đánh máy, lỗi này không làm ảnh hưởng  đến các bên tham gia giao dịch cũng như  hiệu lực của Hợp  đng  ủy quyền. Tại thời  điểm ký Hợp  đng  ủy quyền, các bên có  đầy  đ  năng lực hành vi dân sự, nhận thức và làm chủ  được hành vi của mình.  Đồng thời nội dung thỏa thuận tại Hợp  đồng  ủy quyền không vi phạm những  điu cấm của pháp luật và  đạo  đc xã hội. Việc sai sót của Công chứng viên khi công chứng Hợp  đồng  ủy quyền không phải là cơ sở đ tuyên Hợp  đng ủy quyền vô hiệu.

 

Tại  Điu 1 của Hợp  đng  ủy quyền có nêu rõ: Bên  ủy quyền (ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D  ủy quyền cho bên  được  ủy quyền (bà Phạm Thị  D)  được: “Quản lý, sử  dụng  đi với quyền sử  dụng  đất của vợ  chồng ông T và   được  thế chấp tài sản, quyết  đnh các  điều kiện giao dịch, ký các hợp  đng tín dụng, hợp đồng thế  chấp, các văn bản thỏa thuận, sửa  đi, bổ  sung hợp  đng, thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo  đảm theo quy định của pháp luật”.

 

Trong toàn b  nội dung  ủy quyền, bên  ủy quyền không giới hạn về  phạm vi ủy quyền nên bên  được  ủy quyền ký hợp  đồng thế  chấp tài sản  đ  đảm bảo cho nghĩa vụ  của ông Nguyễn Thế  Hvà bà Nguyễn Thị  Minh P là phù hợp. Việc Tòa án cấp sơ  thẩm cho rằng bà Phạm Thị  D ký hợp  đồng thế  chấp bảo  đảm cho khoản vay của anh H và chị  P khi chưa  được sự  đồng ý của bà Bùi Thị  D và ông Phạm Văn T là vượt quá phạm vi  ủy quyền là không có cơ sở.

 

Trên  sở  Hợp  đồng  ủy quyền, bà Phạm Thị  D  đã thế  chấp quyền sử  dụng đất của vợ  chồng ông T  đ  đảm bảo cho khoản vay của anh H và chị  P theo Hợp đồng thế  chấp quyền sử  dụng  đt và tài sản gắn liền với  đt của bên thứ  ba số

0251.11/HDDTC3 ngày 12/10/2011.  Đến thời  điểm hiện nay, anh H và chị  P chưa

thc hin xong nghĩa v  trả  nợ  gốc và lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số  N.C.0251/HĐTD ngày 12/10/2011. Vì vậy Hợp  đng thế  chấp này do bà Phạm Thị  D là người  được  ủy quyền theo Hợp  đng  ủy quyền ký vẫn trong thời hạn hiệu lực.

 

V  việc tính lãi  đi với anh H, chị  P  được tính lại với lãi suất trong hạn là

289.634.787đồng, lãi quá hạn là 922.281.250đồng.

 

V  hợp  đồng thế  chấp: Tại Hợp  đồng thế  chấp thể  hiện bên thế  chấp là ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị  D. Bà Phạm Thị  D chỉ  là người  được vợ  chồng ông T  ủy quyền kí Hợp  đồng thế  chấp. Hợp  đồng thế  chấp  đã  được  đăng kí giao dịch bảo đảm  đúng quy  định do vậy, khi vợ  chồng anh H vi phạm nghĩa vụ  thanh toán thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản của vợ chồng ông T

 

Người  đi diện hợp pháp của Văn Phòng Công chứng  Đ trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:  Bản án sơ  thẩm nhận  định có lỗi tại  Điu 1 của Hợp  đng  ủy quyền.  Đây là việc do lỗi  đánh máy  đ  thừa cụm từ: “Bên  y quyền và bên  đưc  y quyền hiện là  đng chủ  sở  hữu, sử  dụng bất  động sản tại….”  là không có nghĩa, do không có căn cứ  và cũng không làm  ảnh hưởng đến quyền là lợi ích hợp pháp của các  đương sự  trong giao kết hợp  đng, không làm thay  đổi bản chất giao dịch của hợp  đng. Trường hợp này  được xác  đnh là lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng. Việc xác định lỗi kỹ thuật và việc thực hiện sửa lỗi kỹ  thuật  đưc quy  định tại khoản 1 và khoản 3  Điều 43 của Luật Công chứng. Sau khi phát hiện lỗi này, Văn phòng Công chứng  đã thông báo cho các bên  đến  đ  sửa chữa lại nội dung trên nhưng các bên không  đến nên không thể  sửa chữa  đưc. Từ  Hợp  đng  ủy quyền này, bà Phạm Thị  D  đã ký Hợp  đồng thế  chấp tài sản với Ngân hàng, giao dịch bảo  đảm được Văn phòng  đăng ký quyền sử  dụng đất huyện L chấp nhận. Vì vậy với lỗi trên, Tòa án cấp sơ  thẩm tuyên Hợp  đồng ủy quyền vô hiệu toàn phần là không có căn cứ  pháp luật, dẫn  đến Hợp  đồng thế chấp cũng vô hiệu toàn phần nên không chấp nhận yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm của bên thế chấp là không có cơ sở.

 

B  đơn là anh Nguyễn Thế  Htrình bày: Anh xác nhận  đã kí Hợp  đồng tín dụng với Ngân hàng vay số  tiền 1.500.000đồng như  quan  đim của Ngân hàng. Tuy nhiên anh yêu cầu Ngân hàng cho vợ chồng ông T được thanh toán toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng và chỉ  tính lãi trong hạn cho vợ  chồng ông T trong thời hạn 01 năm (từ năm 2011  đến năm 2012).

 

Người bo v quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị  D

trình y quan  điểm bảo vệ:

 

Yêu  cầu  Tòa  án  tuyên  hủy  Hợp   đng   ủy  quyền  công  chứng  ngày

11/10/2011 do có sai phạm nghiêm trọng cả  về  nội dung và hình thức của hợp đồng. Hợp  đồng ghi nhận không khách quan về  nội dung và hình thức của hợp đồng. Hợp  đng ghi nhận không chính xác về  chủ  sở  hữu quyền sử  dụng  đất là tài sản trực tiếp  đối với nội dung  ủy quyền của vợ  chồng ông T cho bà Phạm Thị  D. Đng thời Hợp  đng này cũng có những vi phạm trong nghiệp vụ  của Công chứng

 

viên trong quá trình công chứng, công chứng viên kng hưng dn các bên ký vào từng trang của Hợp  đồng.

 

V hợp  đng thế chấp ngày 12/10/2011, đây thực chất là hợp  đng bảo lãnh. Trong nội dung  ủy quyền, vợ  chồng ông T chỉ ủy quyền cho bà Phạm Thị  D  được ký kết các hợp  đồng thế  chấp, hợp  đng tín dụng mà không  ủy quyền cho bà D được ký kết hợp  đồng bảo lãnh nhưng Ngân hàng lại lấy tên hợp  đồng thế  chấp trong khi nội dụng lại là Hợp  đồng bảo lãnh là nhằm cố  rình ràng buộc trách nhiệm của vợ  chồng ông T  đi với nghĩa vụ  trả  nợ  cho khoản vay của vợ  chồng ông Hùng với Ngân hàng. Hợp  đng thế  chấp giữa Ngân hàng với bà Phạm Thị  D đã xác lập một giao dịch giả  tạo nhằm che giấu một giao dịch khác là Hợp  đồng bảo lãnh, do  đó Hợp đng này vô hiệu. Vì vậy không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ  của vợ chồng ông T đi với hợp  đng này.

 

Người quyền li nga vụ  liên quan bà Bùi Thị  D bổ  sung ý kiến:   Yêu cầu Ngân hàng cho vợ  chồng bà   được trả  toàn bộ  nợ  gốc và không phát mại tài sản của vợ  chồng bà, tính lãi cho vợ  chồng bà bằng 50% số  nợ  lãi trong hạn. Bà thừa nhận có kí hợp  đồng  ủy quyền cho bà Phạm Thị  D dùng tài sản của vợ  chồng bà  đ  thế  chấp cho khoản vay của Ngân hàng. Tài sản  đang thế  chấp cho Ngân hàng là của vợ chồng bà, không phải của bà Phạm Thị  D.

 

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

 

Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy đinh cua pháp luật. Các đương sự đa thực hiện đung các quyền va nghia vu, tham gia phiên toa theo cac quy định cua Bô luât Tố tung dân sư. Sau khi xét xử sơ thẩm Ngân hàng và Văn Phòng Công chứng Đ có kháng cáo về việc tuyên không phát mại tài sản thế chấp do Hợp đồng thế chấp và Hợp đồng ủy quyền vô hiệu.

 

Về hợp đồng ủy quyền: Ngân hàng và Văn phòng công chứng có quan điểm đây là sai sót trong quá trình đánh máy, lỗi kĩ thuật nhưng thực tế việc xác nhận ai là chủ sở hữu mảnh đất này là căn cứ để xác lập việc ủy quyền cho người khác, sử dụng tài sản này. Việc nhận định ông T, bà Bùi Thị D, bà Phạm Thị D là đồng sở hữu thửa đất này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông T. Theo khoản 1 Điều 43 Luật Công chứng thì lỗi này không thể coi là lỗi kĩ thuật. Bên cạnh đó, vợ chồng ông T cũng có ý kiến cho rằng không biết việc bà Phạm Thị D thế chấp tài sản của ông bà để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng anh H. Điều đó đã vi phạm khoản 3.1 Điều 3 của Hợp đồng ủy quyền.

 

Về hợp đồng thế chấp: Ngân hàng biết chủ sở hữu tài sản là vợ chồng ông T nhưng vẫn đồng ý kí kết với bà Phạm Thị D hợp đồng thế chấp số 0251.11/HĐTC này 12/10/2011 mà không thông báo cho chủ sở hữu của tài sản biết. Do đó, có căn cứ xác định Hợp đồng ủy quyền số 3368/HĐUQ.2011 ngày 11/10/2011 đã vi

 

phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm

2005.

 

Do vậy, căn cứ Điều 122 của Bộ luật Dân sự, Hợp đồng ủy quyền số 3368 vô hiệu. Vì vậy Hợp đồng thế chấp cũng vô hiệu theo do bên thế chấp không có quyền thế chấp nên trường hợp này không thể phát mại tài sản thế chấp.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng và Văn phòng Công chứng Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 29/2017/KDTM ngày 16/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L.

 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

 

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

 

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị D, bà Đặng Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị D và bà Đặng Thị Đ.

 

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều

30, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

 

[3] Về  việc xác định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Đăng ký đất đai Tài nguyên và Môi trường, chi nhánh L là đơn vị phụ thuộc của Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng, không có tư cách pháp nhân nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định Văn phòng Đăng ký đất đai Tài nguyên và Môi trường, chi nhánh L và Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Tài nguyên và Môi trường, chi nhánh L không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

 

[4] V  Hợp  đng tín dụng số  N.C.0251.11/HĐTD ngày 12/10/2011  được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ với anh Nguyễn Thế Hvà chị  Nguyễn Thị Minh P:

 

Thc hin Hợp  đng, Ngân hàng TMCP  Đ đã giải ngân số  tiền vay cho vợ chồng anh H chị  P từ  ngày 12/10/2011. Quá trình thực hiện Hợp  đồng tín dụng, đến tháng 4 năm 2012 anh H và chị  P vi phạm nghĩa vụ  trả  nợ, toàn bộ  khoản vay đã chuyển thành nợ  quá hạn. Ngân hàng TMCP  Đầu tư  và Phát triển  đã tạo  điu kiện kéo dài thời gian trả  nợ  nhưng  đến nay  đã quá thời hạn gia hạn mà anh H, chị P không thực hiện  được. Tại cấp sơ  thẩm anh H, chị  P khai không  được sử  dụng khoản tiền trên mà là vay cho chị  Đào nhưng chị  Đào không thừa nhận và anh H và chị  P cũng không có chứng cứ  chứng minh việc vay cho chị  Đào. Tại Giấy rút tiền ngày 12/10/2011 thể  hiện người nhận số  tiền 1.500.000  đồng là anh Nguyễn

 

Thế  H. Tại các giấy nộp tiền ngày 10/11/2011, 10/12/2011  đu thể  hiện anh H là người trả  nợ  vay cho Ngân hàng. Và tại phiên tòa phúc thẩm, anh H  đã xác nhận về  việc thực hiện Hợp  đồng tín dụng với Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu anh H, chị  P trả  toàn bộ  nợ  gốc và lãi theo Hợp  đồng tín dụng  số  0251.11/HĐTD ngày

12/10/2011 là có căn cứ.

 

V cách tính lãi của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển:

 

Tại  Điu 3 của Hợp  đồng tín dụng số  0251.11/HĐTD ngày 12/10/2011 quy định về  lãi suất cho vay như  sau: Lãi suất cho vay VNĐ được áp dụng theo hình thức thả  nổi với mức lãi suất kỳ  đu tiên là 19%/năm, lãi suất thả  nổi  được  điu chỉnh 03 tháng một lần kể  từ  ngày khách hàng nhận nợ  vay  đầu tiên cho  đến khi kết thúc hợp  đồng tín dụng. Lãi suất vay các kỳ  tiếp theo  được  điều chỉnh theo nguyên tắc = Lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng trả  lãi sau của ngân hàng cộng với biên đ  5%/năm.

 

Ngày 12/10/2011, v  chồng  kí  hợp  đồng  tín  dụng  với  Ngân  hàng  vay

1.500.00ng, thi hn vay 12 tháng. Ngày 13/10/2012, v  chồng anh H tiếp tục kí phụ  lục hợp  đồng tín dụng  đ  nghị  gia hạn khoản vay trên thêm 12 tháng. Khi vợ  chồng anh H vi phạm nghĩa vụ  thanh toán, tiền lãi trong hạn sẽ  được tính từ ngày 12/10/2011  đến ngày 12/10/2013, lãi quá hạn sẽ  tính từ  ngày 13/10/2013  đến ngày tòa án cấp sơ thẩm xét xử.

 

Như  vậy, cách tính lãi suất của Ngân hàng TMCP  Đ  qua các thời kỳ là  đúng quy  định trong Hợp  đồng tín dụng và  đúng theo Quyết  định số  432/QĐ-CNHP ngày   27/12/2011,   số    69/QĐ-CNHP   ngày   11/4/2012,   337/QĐ-CNHP   ngày

13/11/2013, 388/QĐ-CNHP ngày 26/8/2014 của Giám đc Chi nhánh Ngân

hàng Phát trin nhà  Đng bằng sông Cửu Long tại Hải Phòng về  ban hành lãi suất huy đng tiền gửi tiết kiệm thông thường.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm, b  đơn và bà Bùi Thị  D yêu cầu Ngân hàng chỉ tính lãi trong hạn trong thời hạn 01 năm, không tính lãi quá hạn  đi với bị  đơn nhưng Ngân hàng không  đng ý nên vợ  chồng anh H chị  P phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ  nợ  gốc 1.500.000đồng cùng tiền lãi trong hạn là 289.634.787 đồng, lãi quá hạn là 922.281.250  đồng.

 

[5] Xét các yêu cầu kháng cáo:

 

5.1. V  Hợp  đng  ủy quyền   số  3368 ngày 11/10/2011  đưc lập tại Văn phòng Công chứng  Đ:

 

+ V  hình thức: Hợp  đồng  ủy quyền  được lập thành văn bản và  được công chứng theo quy  đnh của pháp luật. Bên  ủy quyền và bên  đưc  ủy quyền  đu có mặt và đu có  đầy đ  năng lực hành vi và nhận thức. Như vậy, hình thức hợp  đng ủy quyền phù hợp với quy định của pháp luật.

 

+ Về nội dung:

 

Bên ủy quyền là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D; Bên được ủy quyền là bà Phạm Thị  D

Tại  Điu 1 của Hợp  đồng  ủy quyền quy  định về  lý do, nội dung và phạm vi ủy quyền có nêu: Bên  ủy quyền và bên  đưc  ủy quyền hiện là đng chủ  sở hữu, sử dụng bất  đng sản tại thôn Thủy Tú, xã Thủy  Đường, huyện L, thành phố  Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử  dụng  đt số  BG 267877 do UBND huyện L, thành phố  Hải Phòng cấp ngày 21/7/2011 mang tên chủ  sử  dụng  đt là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D.

 

Tuy nhiên, tài liu có trong h  sơ  thể hiện: Theo Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử  dụng thửa  đt số  01 tờ  bản  đ  số  02, diện tích 74,25m2  th  hiện năm 2004

U  ban nhân dân huyện L cấp cho hộ  ông Nguyễn Văn Hùng, năm 2008 ông Hùng chuyển nhượng cho vợ chồng bà Đng Thị Đ và ông Bùi Văn Thông, đến năm 2011 bà  Đ  và ông Thông chuyển nhượng cho vợ  chồng ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị

D.

 

Tại Giấy chứng nhn quyền s  dụng  đt số  BG 267877 do UBND huyện L, thành phố  Hải Phòng cấp ngày 21/7/2011 mang tên chủ  sử  dụng  đt là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D, diện tích 74,25m2. V  chồng ông T xác nhận không có thỏa thuận riêng nào giữa bà Bùi Thị  D, ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị  D về việc là đng sở  hữu diện tích  đt nêu trên. Bà Phạm Thị  D cũng khai tài sản trên là của ông T và bà Bùi Thị  D. Hai bên không tranh chấp về  quyền sử  dụng  đt,  đu thống nhất  đây là tài sản của vợ  chồng ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D nên không   ảnh hưởng  đến quyền và lợi ích hợp pháp của các  đương sự  trong giao kết hợp  đng, không làm thay đi bản chất giao dịch của hợp  đồng.

 

Tại  Điu 1 của Hợp  đng  ủy quyền có nêu rõ: Bên  ủy quyền (ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D  ủy quyền cho bên  được  ủy quyền (bà Phạm Thị  D)  được: “Quản lý, sử  dụng  đi với quyền sử  dụng  đất của vợ  chồng ông T và   được  thế chấp tài sản, quyết  đnh các  điều kiện giao dịch, ký các hợp  đng tín dụng, hợp đồng thế  chấp, các văn bản thỏa thuận, sửa  đi, bổ  sung hợp  đng, thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo  đảm theo quy định của pháp luật”.

 

Hi  đng xét xử  thấy: Quyền  đi diện theo hợp  đng  ủy quyền xác lập, thực hiện hợp  đng thế  chấp tài sản nêu trên không  được xác  đnh với hợp  đồng thế chấp cụ  thể  nào, không chỉ  rõ bên nhận thế  chấp, bên có nghĩa vụ  được bảo  đảm, nghĩa vụ  được bảo  đm... Do vậy, trong thời hạn  ủy quyền, bên  được  ủy quyền được nhân danh bên  ủy quyền xác lập, thực hiện bất kỳ  hợp  đng thế  chấp tài sản nào không trái pháp luật, không trái  đo  đc xã hội. Việc bên  được  ủy quyền ký

 

hp  đồng thế  chấp tài sản mà không thông báo cho bên  ủy quyền biết không bị  coi là thực hiện vượt quá phạm vi  ủy quyền.

 

Tại khon 1  Điu 565 của Bộ  luật Dân sự  quy  đnh về  nghĩa vụ  của bên được  ủy quyền như  sau: Thực hiện công việc theo  ủy quyền và báo cho bên  ủy quyền về  việc thực hiện công việc  đó.Và khoản 6   Điều 565 của Bộ  luật Dân sự cũng quy đnh: Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ  quy đnh tại  Điu này.

 

Căn cứ  các quy  định nêu trên, khi bà Phạm Thị  D không thông báo cho vợ

chồng ông T v  việc xác lập, thực hiện hợp  đng thế  chấp tài sản số  3368 ngày

11/10 /2011,  nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường cho vợ  chồng ông T bà D và sẽ

được giải quyết bằng vụ  án dân sự khác khi có yêu cầu.

 

Như vậy, Hợp  đng ủy quyền số 3368 ngày 11/10/2011  được lập tại Văn phòng Công chứng  Đ có hiệu lực đi với các bên.

 

5.2. V Hợp đồng thế chấp ngày 12/10/2011:

 

Người bo v  quyền và lợi ích hợp pháp của vợ  chồng ông T cho rằng trong Hợp  đồng  ủy quyền thì chỉ ủy quyền thế  chấp nhưng bà Phạm Thị  D  đã dùng tài sản bảo lãnh cho người thứ ba là vượt quá phạm vi  ủy quyền. Tên của Hợp  đng là thế chấp nhưng nội dụng lại là bảo lãnh nên hợp  đồng thế  chấp này vô hiệu vì thực hiện không  đúng quy  định của Bộ  luật Dân sự  về  thế  chấp và bảo lãnh. Về  nội dung này, tại khoản 4  Điều 7 Nghị  định số  163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ  về  giao dịch bảo  đảm quy  đnh:  “  Việc bảo lãnh bằng quyền sử  dụng đất….được chuyển thành việc thế  chấp quyền sử  dụng  đt…ca người thứ  ba”. Tại  Điều 31 Nghị  định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ  quy  định: “  Bảo lãnh bằng quyền sử  dụng  đttheo quy  định của Luật  đất  đai  đưc hiểu là thế  chấp bằng quyền sử  dụng  đt cho người thứ  ba vay vốn theo quy  định của Bộ luật Dân sự  (sau  đây gọi chung là thế  chấp quyền sử  dụng  đt)”. Tại  điểm a tiểu mục 1.1 mục 1 phần I Thông tư  liên tịch số  04/2006/TTLT-BYP-BTNMT ngày

13/6/2006 hưng dn việc công chứng, chứng thc hp  đồng, văn bản quyền sử dụng  đất cũng coi  “thế  chấp quyền sử  dụng  đt, thế  chấp quyền sử  dụng  đt của người thứ  bà mà trong Luật  Đất  đai gọi là bảo lãnh quyền sử  dụng  đt (gọi chung là thế  chấp quyền sử  dụng  đất) và  “…hợp  đng thế  chấp quyền sử  dụng  đt, hợp đồng thế  chấp quyền sử  dụng  đt của người thứ  ba mà Luật  Đt  đai gọi là bảo lãnh bằng quyền sử dụng  đất (gọi là hợp đng thế chấp quyền sử dụng  đt)”.

 

Thc hiện Hợp  đồng  ủy quyền, bà Phạm Thị  D  đã ký Hợp  đng thế  chấp quyền sử  dụng  đt  đ  bảo  đảm khoản vay cho anh H và chị  P tại Ngân hàng. Hợp đồng thế  chấp  đưc công chứng hợp pháp,  được  đăng ký giao dịch bảo  đảm  đúng quy đnh.

 

Trong hợp  đồng  ủy quyền của vợ  chồng ông T có nêu:  “Ủy quyền cho bà Phạm Thị  D được toàn quyền thế chấp tài sản, ký các hợp  đng tín dụng, hợp  đồng thế  chấp…”, và thực chất là vợ  chồng ông T bà Bùi Thị  D  đã  đng ý  đ  bà Phạm Thị  D dùng quyền sử  dụng  đất  đ  thế  chấp cho Ngân hàng, do  đó bà Phạm Thị  D không thực hiện quá phạm vi  ủy quyền. Bởi lẽ: Theo quy định tại  Điu 715 của Bộ luật Dân sự  2005 quy  định:  “Hợp  đng thế  chấp quyền sử  dụng  đt là sự  thỏa thuận giữa các bên, theo  đó bên sử  dụng  đất dùng quyền sử  dụng  đt của mình  đ bảo  đảm việc thực hiện nghĩa vụ  dân sự  với bên kia…”  và  Điêu 361 của Bộ  luật Dân sự  năm 2005 quy  định:  “Bảo lãnh là việc người thứ  ba cam kết với bên có quyền sẽ  thực hiện nghĩa vụ  thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi  đến thời hạn mà bên  được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ….”

 

Như  vậy, Hợp  đồng thế  chấp tài sản số  0251.11/HĐTC3  được công chứng tại Văn phòng Công chứng  Đ,  đăng ký giao dịch bảo  đảm ngày 12/11/2011 phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp vợ chồng anh H, chị P không thanh toán được khoản nợ  cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP  Đ  có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp  đ thu hồi nợ.

 

T  nhận  định trên, căn cứ  khoản 2  Điu 308, khoản 1  Điều 309 của Bộ  luật

T   tụng  dân  sự,  sửa  Bản  án  sơ   thẩm,  công  nhận  Hợp   đng   ủy  quyền  số

3368/HĐUQ.2011ngày 11/10/2011 và Hợp đồng thế chấp số   0251.11/HĐTC3 ngày 12/11/20111 được lập tại Văn phòng Công chứng Đ có hiệu lực pháp luật.

 

[6] Về án phí phúc thẩm:

 

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và Văn phòng Công chứng Đ không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, Văn phòng Công chứng Đ.

 

Vì các lẽ trên,

 

QUYẾT ĐNH:

 

Căn cứ khon 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

 

Căn cứ Điều 715, Điều 280, khoản 1 Điều 281, Điều 361, khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

 

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 43 của Luật Công chứng;

 

Căn cứ  Điều 48 của Nghị quyết 362/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

 

Chấp nhn kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và kháng cáo của Văn phòng Công chứng Đ:

 

[1]  Sửa  Bản  án  kinh  doanh  thương  mại  số  29/2017/KDTM-ST  ngày

16/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, Hải Phòng:

 

1.1. Công nhận Hợp đồng ủy quyền số  3368/HĐUQ.2011 ngày 11/10/2011 và Hợp  đng thế  chấp số  0251.11/HĐTC3 ngày 12/11/2011  được lập tại Văn phòng Công chứng  Đ có hiệu lực pháp luật.

 

1.2. Chấp nhn yêu cầu phát mại tài sn thế  chấp là Quyền sử  dụng  đt diện tích 74,25m2   tại tha  đt số  01, tờ  bản  đ  số  02, thôn Thủy Tú, xã Thủy  Đường, huyện Thuỷ  Nguyên,  đứng tên chủ  sử  dụng là ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị  D, được Uỷ  ban nhân dân huyện L, thành phố  Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số  BG267877 ngày 21 tháng 7 năm 2011.

 

[ 2] Gi  nguyên các Quyết  định sau của bản án kinh doanh thương mại số

29/2017/KDTM-ST này 16/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, Hải Phòng:

 

Chấp nhn  yêu cầu khởi kiện của nguyên  đơn, buộc anh Nguyễn Thế  H và chị  Nguyễn Thị  Minh P phải thanh toán trả  cho Ngân hàng Thương mại Cổ  phần Đ  theo Hợp  đng tín dụng số  N.C.0251.11/HĐTD ngày 12 tháng 10 năm 2011 với tổng số  tiền tính  đến ngày 16 tháng 6 năm 2017 là 2.711.916.037đ  (hai tỷ, bảy trăm mười một triệu, chín trăm mười sáu nghìn, không trăm ba mươi bảy đồng).Trong  đó nợ  gốc là 1.500.000.000 (một tỷ, năm trăm triệu  đng), nợ  lãi trong hạn là 904.488.953đ  (chín trăm linh bốn triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn, chín trăm năm mươi ba  đồng), nợ  lãi quá hạn là 307.427.083đ  (ba trăm linh bảy triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn, không trăm tám mươi ba đồng).

V  lãi suất chậm thi hành án: Kể  từ  ngày tiếp theo của ngày xét xử  sơ  thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số  tiền nợ  gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp  đồng cho  đến khi thanh toán xong khoản nợ  gốc này. Trường hợp trong hợp  đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về  việc  điu chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ  của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết  định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

 

[3] V án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

 

Anh Nguyn Thế  H và chị  Nguyễn Thị  Minh P phải nộp 86.238.321 (tám mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi mốt  đồng) án phí kinh doanh, thương mại.

 

Tr  lại Ngân hàng Thương mại Cổ  phần  Đ  số  tiền 41.390.000 (bốn mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi nghìn  đng)  đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự  huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng biên lai số 0000500 ngày 28 tháng 11 năm 2016.

 

[4] V án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

 

Ngân hàng Thương mi C  phần  Đ  không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Trả  lại Ngân hàng Thương mại Cổ  phần  Đ  2.000.000đ  (hai triệu  đổng) tiền tạm  ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo Biên lai thu tạm  ứng án phí số  0005607 ngày 14/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Hải Phòng.

 

Văn phòng Công chứng  Đ  không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, trả  lại Văn Phòng Công chứng  Đ  2.000.000đ  (hai triệuđồng) tạm án án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm  đã nộp theo Biên lai thu tạm  ứng án phí số

0001087 ngày 04/7/2017 ca Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Hải Phòng.

 

Bản án kinh doanh thương mi phúc thm có hiu lc pháp lut k  từ  ngày tuyên án.

V  quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ  thi hành án: Bản án này  được thi hành theo quy  định tại  Điu 2 Luật Thi hành án dân sự  thì người  được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự  có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự  nguyện thi hành án hoặc bị  cưỡng chế  thi hành án theo quy định tại các  Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án  được thực hiện theo quy đnh tại  Điu 30 Luật thi hành án dân sự.

 


79
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2017/KDTM-PT ngày 26/12/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:29/2017/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 26/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về