Bản án 29/2018/DS-ST ngày 17/08/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 29/2018/DS-ST NGÀY 17/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 17/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2018/TLST-DS ngày 03/7/2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2018/QĐXXST-DS ngày 06/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Kim C, sinh năm 1967. Địa chỉ: ấp C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Bị đơn: Bà Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Bà C, bà D có mặt, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/6/2018 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Kim C trình bày:

Vào ngày 30/8/2015 vợ chồng bà Võ Thị Ngọc D có vay của bà số tiền 163.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 4%/tháng, có viết biên nhận, thỏa thuận sau khi thu hoạch vụ đông xuân 2016 sẽ trả. Đến hạn nhưng vợ chồng bà D không trả tiền vốn vay nhưng đã trả lãi cho bà được 07 tháng với số tiền 46.000.000 đồng. Do hoàn cảnh gia đình bà D khó khăn nên có thỏa thuận lãi suất 1%/tháng theo quy định của Ngân hàng từ tháng 4/2016 và hẹn trả theo mỗi vụ lúa là 50.000.000 đồng nhưng vợ chồng bà D vẫn không trả.Tại phiên tòa bà Trần Kim C yêu cầu bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T trả số tiền vốn vay 163.000.000 đồng và tiền lãi tính theo mức lãi suất 1.25%/tháng từ ngày vay trừ đi 46.000.000 đồng tiền lãi đã nhận là 20.015.000 đồng.

Bị đơn bà Võ Thị Ngọc D trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của bà Trần Kim C, vào ngày 30/8/2015 vợ chồng bà có vay của bà C số tiền 163.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng vợ chồng bà đã trả lãi 46.000.000 đồng, sau đó thỏa thuận lãi suất 1%/tháng nhưng do làm ăn thất bại nên chưa có tiền trả cho bà C.

Trước yêu cầu của bà Trần Kim C bà đồng ý trả nhưng xin mỗi vụ lúa trả 10.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T trình bày: Ông thống nhất lời trình bày và ý kiến về việc trả nợ của bà D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 25/6/2018 bà Trần Kim C có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng giải quyết buộc bà Võ Thị Ngọc D trả số tiền vay làm phát sinh quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do bà D cư trú tại xã V, huyện V, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [3] Về thời hiệu: Các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Tòa án không đề cập.

 [4] Về nội dung khởi kiện:

 [4.1] Xét về số tiền vốn vay 163.000.000 đồng: Căn cứ vào giấy nhận nợ ngày 30/8/2015 do bà C cung cấp làm chứng cứ chứng minh có nội dung bà D có mượn chị C số tiền 163.000.000 đồng, được bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T thừa nhận. Bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T cho rằng làm ăn thất bại nên chưa có tiền trả cho bà C nên đã vi phạm thỏa thuận của bên vay. Nên bà D và ông T có nghĩa vụ trả cho bà C 163.000.000 đồng vốn vay.

 [4.2] Xét về số tiền lãi:

Các bên thừa nhận bà C đã nhận lãi của bà D với số tiền 46.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 4%/tháng từ ngày 30/8/2015. Tại phiên tòa bà C yêu cầu bà D và ông T trả tiền lãi tính theo mức lãi suất 1.25%/tháng từ ngày vay (30/8/2015) đến nay là 66.015.000 đồng trừ đi 46.000.000 đồng tiền lãi đã nhận còn là 20.015.000 đồng. Nên căn cứ Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định về lãi suất thì yêu cầu tính lãi của bà C là phù hợp và bà D, ông T cũng đồng ý nên được chấp nhận toàn bộ.

Từ những phân tích nêu trên có cơ sở khẳng định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ. Đối với yêu cầu xin trả dần của bà D do pháp luật không quy định việc trả dần và nguyên đơn bà C không đồng ý nên không được chấp nhận.

 [5] Án phí: Do được chấp nhận yêu cầu nên nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3, Điều 26; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 468, 470 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mứcthu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim C về việc yêu cầu bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T liên đới trả số tiền 163.000.000 đồng tiền vốn vay và 20.015.000 đồng tiền lãi.

Buộc bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T liên đới trả cho bà Trần Kim C số tiền 163.000.000 đồng tiền vốn vay và 20.015.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là183.015.000 đồng (một trăm tám mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

Buộc bà Võ Thị Ngọc D và ông Ngô Văn T phải liên đới nộp 9.151.000 đồng (Chín triệu một trăm năm mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Trần Kim C 5.123.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tạiChi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0004866 ngày 03/7/2018.Báo cho nguyên đơn, bị đơn được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/DS-ST ngày 17/08/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:29/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về