Bản án 29/2019/HS-PT ngày 19/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 29/2019/HS-PT NGÀY 19/09/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 19/9/2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 35/2019/TLPT–HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2019/HS-ST ngày 17/07/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

* Bị cáo kháng cáo:

Hoàng Văn S (Tên gọi khác C), sinh ngày 09/01/1999 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn K (Đã chết) và bà Hoàng Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Hà Quảng T, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Hoàng Quốc C, sinh năm 2000, trú tại: Tổ 7, thị trấn CM, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).

- Vương Văn H, sinh năm 1998, trú tại: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

- Hà Đức V, sinh năm 1999, trú tại: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

- Hà Ngọc H, sinh năm 1972, trú tại: Thôn NC, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 14 giờ ngày 31/01/2019, sau khi ăn cơm xong tại nhà Mông Văn T trú tại thôn B, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Hà Quảng T cùng Hoàng Quốc C đi về nhà trên chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-422.18 do Hà Quảng T điều khiển theo đường Quốc lộ 3. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì gặp Vương Văn H, Hà Đức V và Hoàng Văn S cùng đi trên chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-508.61 do H điều khiển, đi cùng chiều theo hướng Nông Hạ - Chợ Mới. Khi gặp xe của H, Tđiều khiển vượt xe của H và đi trước. Đi vượt được khoảng 100 mét thì xe của H đuổi kịp và vượt lên. Lúc vượt ngang qua thì S nhìn về phía T và nói một câu, đại loại là “Mày nhìn cái gì, thích đánh nhau không”, T và C không nói gì với S, T có nói với C là “Chắc mấy thằng hâm” và tiếp tục đi.

Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn CP, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì S bảo H dừng xe với mục đích đợi T đi đến để đánh. Thấy H, V, S dừng lại, T cũng dừng lại và xuống xe. Lúc này S tiến về phía T dùng tay tát một nhát vào mặt T, rồi hai bên xảy ra xô sát đánh nhau. S và T vật lộn nhau, sau đó S dùng tay trái ghì chặt cổ T, tay phải cầm đá nhặt ở gần đó đập vào đầu, trán và mặt của T nhiều nhát làm T bị thương và chảy máu. Thấy T và S xô sát đánh nhau, V, H và C vào can ngăn, anh Hà Ngọc H đi qua thấy sự việc cùng vào can ngăn, thì T và S dừng lại. Sau khi sự việc xảy ra, S, H, V cùng nhau đi về, C và anh H đưa T xuống Trung tâm y tế huyện C chữa trị, đến ngày 02/02/2019 thì T ra viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 45/TgT ngày 12/02/2019 và Công văn số 61A ngày 05/4/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Kạn đối với thương tích của Hà Quảng T, kết luận: Tổn thương 1: một vết thương phần mềm ở vùng trán, bờ mép nham nhở, có kích thước 3cm x 0,1cm, vị trí trên giữa hai đầu cung lông mày, tỷ lệ phần trăm thương tật là 0,89 %; Tổn thương 2: một vết thương phần mềm ở vùng trán trái, có kích thước 3,5cm x 0,1cm, vị trí trên điểm giữa cung lông mày trái, tỷ lệ phần trăm thương tật là 0,89%; Tổn thương 3: một vết thương phần mềm, xước m ất da nông ở nhân trung môi trên (vị trí nhân trung), kích thước 03cm x 0,2cm, tỷ lệ phần trăm thương tật là 11%. Tổng tỷ lệ thương tật là 13%. Vết thương phần mềm vùng trán không ảnh hưởng chức năng; Vết thương phần mềm môi trên ảnh hưởng thẩm mỹ; Vật gây thương tích cho các tổn thương 1, 2 và 3 là vật có cạnh, góc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/7/2019, bị cáo Hoàng Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút phần kháng cáo xin được hưởng án treo và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội động xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn S đảm bảo về chủ thể và thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử xét kháng cáo theo quy định.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Bản án sơ thẩm đã tuyên và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 31/01/2019, trên đường Quốc lộ 3 thuộc khu vực Thôn CP, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Hoàng Văn S đã có hành vi gây gổ, đánh nhau với Hà Quảng T. S đã dùng đá đập vào mặt, trán và đầu T, hậu quả làm T bị tổn thương với tổng tỷ lệ thương tật là 13%, trong đó có 01 vết thương ảnh hưởng thẩm mỹ.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Cấp phúc thẩm nhận thấy, bị cáo bị truy tố, xét xử với hai tình tiết định khung là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Tự nguyện bồi thường thiệt hại”; có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng đầy đủ cho bị cáo, đồng thời, cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự để tuyên mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố. Do đó, hình phạt 18 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới làm căn cứ cho việc xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, kháng cáo của bị cáo không được hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2019/HSST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về