Bản án 29/2019/HS-ST ngày 05/06/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 29/2019/HS-ST NGÀY 05/06/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2019 đối với:

Bị cáo Lê Anh T, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1976 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Huy T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H (đã chết); vợ Dương Thị G, sinh năm 1978, đã ly hôn, hiện đang sống chung như vợ chồng với Hoàng Thị N, sinh năm 1982; con: Có 02 người con Lê Ngọc A Tuấn, sinh năm 1999 là con chung với Dương Hồng G; Hoàng Thị Bảo T, sinh năm 2011 là con chung với Hoàng Thị N; tiền sự: Không có; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 18/2011/HS-ST ngày 12/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2017; về nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án xử phạt 08 năm về tội mua bán trái phép chất ma túy nên bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2019 đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lục Văn H, sinh năm 1980; cư trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Lục Văn Đ, sinh năm 1984; cư trú tại: Thôn Nà L, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

3. Ông Đào Công B, sinh năm 1975; cư trú tại: Thôn Đằng, xã Yên Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

4. Anh Lý Viết K, sinh năm 1992; cư trú tại: Khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

5. Ông Lục Văn H, sinh năm 1973; cư trú tại: Thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

6. Ông Lê Văn T, sinh năm 1973; cư trú tại: Thôn R, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

7. Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1986; cư trú tại: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Lê Anh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2019, tại nhà Lê Anh T, đội cảnh sát điều tra phòng chống tội phạm về ma túy Công an huyện Hữu Lũng, phát hiện bắt quả tang Lê Anh T bán trái phép chất ma túy cho Lục Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn L, xã Đ, huyện H đi cùng H là Lục Văn Đ, sinh năm 1984 trú tại thôn N, xã Đ, huyện H. Kiểm tra phát hiện thu giữ:

Thu của Lục Văn H 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng kích thước 02cm x 01 cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng; thu của Lục Văn Đ 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng; thu tại vị trí H và Đ ngồi 01 vỏ ống novocain 03%.

Thu của Lê Anh T: 04 gói nhỏ bằng giấy màu trắng kích thước 02cm x 01 cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, để trong chiếc găng tay giả da màu cam do T tự giác giao nộp; tại trên chiếu chỗ T ngồi 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 07cm x 03cm bị cháy đen ở giữa, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, số Imei 1 có 05 số cuối 67001, số Imei2 có 05 số cuối 67801; 01 ví giả da màu nâu bên trong có 1.195.000đ, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 kéo bằng kim loại có chuôi nhựa màu hồng.

Lê Anh T khai nhận, 04 gói nhỏ bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy Heroine của T mua về để sử dụng, gói ma túy thu giữ của H là ma túy T vừa bán cho H, khi H và Đ đang sử dụng ma túy tại bếp nhà T thì bị Công an huyện Hữu Lũng phát hiện bắt quả tang.

Lục Văn H và Lục Văn Đ cũng khai nhận, H vừa mua với T 01 gói ma túy với số tiền 195.000đ, mua xong H và Đ chia nhau sử dụng luôn một nửa gói ma túy vừa mua tại bếp nhà T, khi đang sử dụng thì bị bắt, số ma túy còn lại đã bị thu giữ.

Khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lê Anh T; thu giữ tại hộp giấy trong phòng ngủ của T 11 mảnh giấy màu trắng kích thước 3,8cm x 3,7cm; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Anh T.

Tại bản kết luận giám định số 95/KL-PC09 ngày 31/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

- Chất bột màu trắng trong gói giấy thu giữ của Lục Văn H là chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,048 gam đã trừ bì;

- Chất bột màu trắng trong 04 gói giấy thu của Lê Anh T đều là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng là 0,482 gam đã trừ bì.

Tại bản kết luận giám định số 98/KLGĐ-PC09 ngày 18/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 1.195.000đ tiền Việt Nam thu giữ của Lê Anh T là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ:

Lê Anh T sử dụng ma túy từ năm 2010, năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy , năm 2017 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống; sau đó T lại tái sử dụng trái phép chất ma túy, để có ma túy phục vụ nhu cầu của bản thân, T thường đi xuống thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang mua ma túy về sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Ngày 28/01/2019 T đi xuống thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang mua với một người đàn ông T không rõ tên tuổi và địa chỉ 07 gói ma túy với giá 1.000.000đ, sau khi mua ma túy về ngày 29/01/2019, T đã bán cho Lục Văn H 03 gói còn 04 gói T cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Lục Văn H và Lục Văn Đ khai nhận: Ngày 29/01/2019, H được mua ma túy với T 02 lần đều có Đ đi cùng; lần 01 khoảng 10h30’ ngày 29/01/2019, H đi cùng Đ đến nhà T, H mua với T 02 gói ma túy với giá 200.000đ, mua xong H và Đ ra vườn sau nhà T chia nhau sử dụng hết. Đến khoảng 13h30’ cùng ngày H lại có nhu cầu sử dụng ma túy nên rủ Đ đến nhà T mua ma túy để sử dụng tiếp, Đ đồng ý, sau đó H vào quầy thuốc tân dược mua 02 xi lanh kim tiêm và 01 ống novocain rồi cùng Đ đến nhà T mua ma túy, đến nơi H đưa cho T 195.000đ và nói chỉ còn bằng đó tiền, T cầm tiền rồi đi vào buồng ngủ lấy 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng ra đưa cho H rồi T đi vào buồng ngủ trưa, còn H lấy 01 nửa gói ma túy vừa mua ra chia nhau với Đ sử dụng luôn tại bếp nhà T, khi đang sử dụng thì bị bắt.

Lục Văn H biết T bán ma túy thông qua Đào Công B, sinh năm 1975, trú tại Thôn Đ, xã Y, huyện H cũng là người nghiện ma túy. Cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày H có nhu cầu sử dụng ma túy nên có hỏi B biết chỗ nào bán ma túy đi mua về sử dụng, B nói biết có người bán rồi dẫn H đến nhà T, đến nơi B đưa cho T 200.000đ mua 02 gói ma túy, mua ma túy xong B đem đi cùng H sử dụng hết; sau đó khoảng 03 đến 04 ngày B lại rủ H đi cùng đến nhà T mua 200.000đ được 02 gói ma túy rồi đem đi sử dụng hết và cách ngày 29/01/2019 khoảng 04 ngày một mình H lại đến nhà T mua với T 01 gói ma túy với giá 100.000đ về sử dụng hết.

Ngoài đi mua ma túy với Lục Văn Đ và Đào Công B ra, khoảng giữa tháng 01/2019, H được đưa Lý Viết K, sinh năm 1992, trú tại khu An Ninh, thị trấn Hữu Lũng đến nhà T mua ma túy nhưng T hết ma túy sau đó K có xin T số điện thoại để liên lạc.

Đào Công B cũng khai nhận: Do làm thợ xây tường rào cho nhà T, có lần được T rủ sử dụng ma túy nên biết T bán ma túy, khoảng giữa tháng 01/2019, H hỏi B chỗ mua ma túy, B đã đưa H đến nhà T mua 200.000đ được 02 gói ma túy sau khi mua được ma túy H và B mang ra khu vực đập nước cách nhà T khoảng 300m chia nhau mỗi người sử dụng 01 gói, H sử dụng bằng cách chích còn B thì hít; sau đó khoảng 03 đến 04 ngày B lại rủ H đi cùng đến nhà T mua 200.000đ được 02 gói ma túy rồi cùng H sử dụng hết.

Lý Viết K cũng khai nhận được mua ma túy với T 02 lần; K biết T bán ma túy là do khoảng giữa tháng 01/2019 được đi cùng H đến nhà T mua ma túy nhưng T hết ma túy nên K đã xin số điện thoại của T để khi cần mua ma túy sẽ liên lạc; hôm sau khoảng 11h trưa, K gọi điện cho T hỏi mua 02 gói ma túy T đồng ý, K đến nhà đưa cho T 200.000đ thì T đưa cho 02 gói ma túy. Sau đó khoảng 03 ngày K không nhớ ngày cụ thể chỉ nhớ lúc đó cũng khoảng 11h trưa K gọi điện thoại hỏi T mua ma túy, T đồng ý và hẹn gặp ở đoạn đường có xưởng đá ở thôn Cóc Dĩ, xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng, K đến chỗ hẹn đợi khoảng 05 phút thì T đến, K đưa cho T 200.000đ thì T đưa cho 02 gói ma túy, số ma túy này K đã tự sử dụng hết.

Trong quá trình điều tra Lê Anh T không thừa nhận đã được bán ma túy cho Lục Văn H 02 lần, chỉ thừa nhận được bán ma túy cho H 01 lần vào khoảng 13h30’ ngày 29/01/2019, tại nhà T, khi vừa bán ma túy cho H xong thì bị bắt; ngoài ra T không được bán ma túy cho H hay bất kỳ ai lần nào khác. T thừa nhận có quen biết với Đào Công B còn Lý Viết K, T không quen biết và không thừa nhận đã được bán ma túy cho Đào Công B và Lý Viết K như B và K khai. Đối với 04 gói ma túy T tự giao nộp là của T mua ngày 28/01/2019 về với mục đích để sử dụng cá nhân chứ không nhằm mục đích bán cho bất kỳ ai.

Lê Anh T khai báo quanh co nhằm mục đích trốn tội nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ quá trình điều tra đã thu thập được như lời khai của Lục Văn H phù hợp với lời khai của Lục Văn Đ, Đào Công B và Lý Viết K, như vậy có đủ căn cứ xác định Lê Anh T đã bán trái phép chất ma túy cho Lục Văn H, Đào Công B và Lý Viết K nhiều lần. Ngoài bán trái phép chất ma túy ra T còn tàng trữ trái phép 0,482 gam chất ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Lê Anh T đã bị xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, đã phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nay lại phạm tội rất nghiêm trọng nên lần phạm tội này của bị can là tái phạm nguy hiểm.

Đối với Lục Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,048 gam chất ma túy Heroine chưa đủ khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự và Lục Văn Đ, Đào Công B, Lý Viết K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an huyện Hữu Lũng đã xử phạt vi phạm hành chính đúng quy định.

Đối với những lần Lục Văn H đi cùng Đào Công B đến nhà T mua ma túy chỉ có B là người trực tiếp trao đổi mua ma túy và những lần H đi cùng Lục Văn Đ thì chỉ có H là người trao đổi mua bán ma túy với T, nên không có căn cứ xử lý đối với Lê Anh T về hành vi đối với nhiều người.

Đối với hành vi Lục Văn H và Lục Văn Đ sử dụng ma túy tại bếp và vườn nhà Lê Anh T do T không biết nên không có cơ sở để xử lý đối với Lê Anh T về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Anh T khai nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Anh T không thừa nhận đã được bán ma túy cho Lục Văn H 02 lần, chỉ thừa nhận được bán ma túy cho H 01 lần vào khoảng 13h30 ngày 29/01/2019, tại nhà T, khi vừa bán ma túy cho H xong thì bị bắt; ngoài ra T không được bán ma túy cho H hay bất kỳ ai lần nào khác.

Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSHL-HS ngày 15/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng để xét xử bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 09 năm đến 10 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh T và 01 năm 6 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy gồm: 02 phong bì thư bên trong chứa đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định là chất ma túy Heroine; 02 xi lanh kim tiêm và 01 vỏ ống novocain 03% đã qua sử dụng; 01 chiếc găng tay giả da màu cam; 01 bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc màu trắng bị cháy đen; 11 mảnh giấy màu trắng kích thước 3,8cm x 3,7cm thu giữ khi khám xét là của con gái T cắt để làm đồ chơi; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Anh T là của T khi làm bị sai tên nhưng T vẫn sử dụng chưa làm lại.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 195.000đ là tiền T bán ma túy cho Hoàn mà có; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, số Imei 1 có 05 số cuối 67001, số Imei 2 có 05 số cuối 67801 là điện thoại T sử dụng trao đổi mua bán ma túy.

Trả lại cho bị cáo những đồ vật, tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: Số tiền 1.000.000đ, là tiền do T bán táo mà có; 01 ví giả da màu nâu và chiếc kéo bằng kim loại là đồ vật sử dụng hàng ngày;

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, cũng như về mức hình phạt. Bị cáo cũng đã biết ăn năn hối cải và xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay lời khai nhận hành vi bán ma túy vào hồi 13h30 và tàng trữ trái phép chất ma túy cùng ngày 29/01/2019 của bị cáo Lê Anh T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, bị cáo Lê Anh T không thừa nhận được bán ma túy cho Lục Văn H hai lần trong một ngày và các lần khác như Lục Văn Hòa đã khai. Căn cứ vào các lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với hành vi cụ thể như sau:

[2] Lê Anh T nghiện chất ma túy đã từ lâu , đã bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích lại tiếp tục tái nghiện và đi mua ma túy về sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 01/2019 đến ngày bị bắt; Lê Anh T đã bán ma túy cho Lục Văn H, Đào Công B và Lý Viết K nhiều lân. Riêng ngày 29/01/2019, Lê Anh T bán ma túy cho Lục Văn H 02 lần: Khoảng 10h30 phút bán 01 lần 02 gói với giá 200.000đ đến khoảng 13h30 phút lại bán tiếp cho Lục Văn H01 gói với giá 195.000đ, khi Lục Văn H mua xong đang cùng Lục Văn Đ sử dụng ma túy tại bếp nhà Lê Anh T thì bị bắt thu giữ của H 0,048 gam chất ma túy Heroine. Sau đó Lê Anh T tự giao nộp 04 gói chất ma túy Heroine có tổng khối lượng là 0.482 gam Lê Anh T cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

[3] Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSHL-HS ngày 15/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bô luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trong xã hội và tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, nhưng vì ham chơi, lười lao động nên đã dẫn thân vào nghiện ma túy và đã có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo.

[5] Để cá thể hóa hình phạt, ngoài việc xem xét hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Lê Anh T là người nghiện ma túy lâu năm; ngày 12/7/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng , tỉnh Lạng Sơn xét xử về mua bán trái phép chất ma túy và xử phạt 08 năm tù vệ tội mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, bị cáo có nhân thân xấu.

[7] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Anh T có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy đã áp dụng tình tiết định khung nên không còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Anh T chỉ thành khẩn khai báo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo khai báo quanh co không thừa nhận đã được bán ma túy cho Lục Văn H 02 lần, chỉ thừa nhận được bán ma túy 01 lần nhằm mục đích trốn tội. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bô luật Hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để xem xét ấn định mức hình phạt cho bị cáo thể hiện được sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với những người biết ăn năn hối cải.

[9] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và xét về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt áp dụng về tội mua bán trái phép chất ma túy theo đề nghị của viện kiểm sát là quá nghiêm khắc nên cần áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[11] Về vật chứng của vụ án, xét thấy:

[12] Cần tịch thu và tiêu hủy gồm những tài sản đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 02 phong bì thư bên trong chứa đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định là chất ma túy Heroine ; 02 xi lanh kim tiêm và 01 vỏ ống novocain 03% đã qua sử dụng là dụng cụ Lục Văn H và Lục Văn Đ dùng để sử dụng ma túy; 01 chiếc găng tay giả da màu cam là của Lê Anh T dùng đựng 04 gói ma túy khi cất giấu; 01 bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc màu trắng bị cháy đen ở giữa là dụng cụ Lê Anh T dùng sử dụng ma túy ; 11 mảnh giấy màu trắng kích thước 3,8cm x 3,7cm thu giữ khi khám xét là của con gái Lê Anh T cắt để làm đồ chơi và 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Anh T là của Lê Anh T khi làm bị sai tên nhưng Lê Anh T vẫn sử dụng chưa làm lại.

[13] Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 195.000đ là tiền Lê Anh T bán ma túy cho Lục Văn H mà có; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, số Imei 1 có 05 số cuối 67001, số Imei 2 có 05 số cuối 67801 là điện thoại Lê Anh T sử dụng liên lạc hàng ngày và trao đổi mua bán ma túy.

[14] Trả lại cho bị cáo những đồ vật, tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: số tiền 1.000.000đ, là tiền do Lê Anh T bán táo mà có; 01 ví giả da màu nâu và chiếc kéo bằng kim loại là đồ vật sử dụng hàng ngày.

[15] Về án phí: Bị cáo Lê Anh T bị kết án phạm tội “Mua bán trái trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy” nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước theo quy định.

[16] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo phải chấp hành là 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành tính từ ngày 29/01/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy gồm: 02 phong bì thư dán kín trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định là chất ma túy Heroine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ giám định phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 02 xi lanh kim tiêm và 01 vỏ ống novocain 03% đã qua sử dụng; 01 chiếc găng tay giả da màu cam; 01 bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc màu trắng bị cháy đen ở giữa; 11 mảnh giấy màu trắng kích thước 3,8cm x 3; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Anh T.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 195.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng , số Imei 1 có 05 số cuối 67001, số Imei 2 có 05 số cuối 67801 là điện thoại của bị cáo T sử dụng trao đổi mua bán ma túy;

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000đ; 01 ví giả da màu nâu và chiếc kéo bằng kim loại đã qua sử dụng

(Các vật chứng trên hiện được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2019 và ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 17/5/2019).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HS-ST ngày 05/06/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:29/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về