Bản án 297/2019/HSPT ngày 18/04/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 297/2019/HSPT NGÀY 18/04/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2019/HSPT ngày 23/01/2019 đối với bị cáo Đ.V.A do có không cáo của người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 184/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện SS, thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị kháng cáo: Họ và tên: Đ.V.A, sinh năm 1994; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khối 7, xã PL, huyện SS, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông: Đ.V.C và bà: P.T.H; Chồng: P.Q.G; Có 01 con sinh năm 2017, hiện đang có thai 05 tháng; Theo danh chỉ bản số 474 lập ngày 22/10/2018 tại Công an huyện SS thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa.

Người bị hại kháng cáo: Chị T.T.H, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Khối 7, xóm Cầu, xã PL, huyện SS, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : Chị Đ.L.O, sinh năm 1992

Địa chỉ: Khối 7, xã PL, huyện SS, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện SS và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện SS thì vụ án có nội dung như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước trong việc bán hàng ở cạnh quán của nhau với chị T.T.H, SN 1984 ở Khối 7 xã PL (là mợ ruột của Đ.V.A). Khoảng 07h30’ ngày 15/8/2018, tại đường Quốc lộ 18 thuộc địa phận khối 14, xã PL, huyện SS, Hà Nội, Đ.V.A, sinh ngày 26/9/1994 trú tại Khối 7, xã PL, huyện SS, Hà Nội bán hàng tại một quán nước của mẹ đẻ là bà P.T.H, SN 1966 đi sang quán nước bà H đang bán hàng (ở phía đối diện bên kia đường, cạnh quán nước của chị H để lấy tiền lẻ trả lại cho khách mua hàng thì chị H tỏ thái độ khiêu khích nên giữa Đ.V.A và chị H xảy ra cãi vã xô sát cãi chửi nhau. Chị H cầm 01 ca nhựa đựng nước sôi ở trong quán, Đ.V.A nhặt 01 can nhựa để ở ngoài cửa quán của chị H với mục đích để dọa rồi tiếp tục chửi nhau thì ông Đ.V.C; sinh năm 1968 (là bố đẻ của Đ.V.A) vào can ngăn đẩy Đ.V.A về quán của gia đình ở phía đối diện với quán của chị H. Khi vừa sang đường, Đ.V.A thấy chị H lấy 01 con dao quắm ở gầm giường trong quán nên chạy vào trong quán của bà H lấy 01 điếu cày bằng tre rồi lại tiếp tục chạy sang quán của chị H và chửi nhau với chị H. Chị H vung dao chém với về phía Đ.V.A nhưng Đ.V.A tránh được nên không trúng. Đ.V.A tay phải cầm điếu cày xông vào bên trong quán, đứng đối diện với chị H giơ điếu cày lên vụt 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào đỉnh đầu và vai trái của chị H, Đ.V.A định vụt tiếp cái thứ 02 thì bị mắc điếu vào dây điện ở phía trên mái nhà của quán nên không vụt được. Ngay lúc đó ông C vào can ngăn, giằng con dao của chị H và điếu cày của Đ.V.A vứt xuống ruộng ở gần đó. Đ.V.A tiếp tục xông vào túm tóc giật chị H ngã ngồi xuống chiếc phản nằm ngủ trong quán và dùng tay đánh vào người chị H. Chị H vẫn ngồi ở trên phản, hai chân buông thõng xuống đất. Lúc này Đ.L.A, sinh năm 1992 (là chị gái Đ.V.A) từ quán bà H chạy sang xông vào dùng chân đạp 01 cái vào đùi chị H thì ông C và bà H vào can ngăn, kéo Đ.V.A và Đ.V.A về quán của mình. Chị H bị thương và được đưa đến Bệnh viện đa khoa SS điều trị với thương tích 01 vết thương vùng đỉnh chẩm trái KT 02cm, 02 vết bầm tím vùng ngực, 01 vết bầm tím vùng chân trái, chị H nằm viện đến ngày 16/8/2018 thì ra viện.

Ngày 25/8/2018 chị T.T.H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, bị can để điều tra làm rõ.

Ngày 11/9/2018, Cơ quan CSĐT-Công an huyện SS có quyết định số 291 trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với chị H. Ngày 25/9/2018, Trung tâm pháp y Sở y tế Hà Nội có Bản kết luận giám định số 879, kết luận thương tích của chị H như sau.

+ Sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm trái: 02%

+ Các chạm thương phần mềm khác, không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 không quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.

Nhiều khả năng thương tích và các chạm thương do vật tày, tày có cạnh gây nên.

Quá trình điều tra, Đ.V.A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 184/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện SS, thành phố Hà Nội đó xử và quyết định:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Đ.V.A: 09 (chín) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã PL, huyện SS, TP.Hà Nội giám sát trong thời gian thử thách.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 6.000.000đ cho chị T.T.H

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí, và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 12/12/2018, người bị hại là chị T.T.H kháng cáo đề nghị không cho bị cáo Đ.V.A được hưởng án treo và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo tăng mức bồi thường đối với chị

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bị hại rút một phần yêu cầu kháng cáo, không yêu cầu bị cáo phải tăng mức bồi thường cho chị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:

Về hình thức: Kháng cáo của người bị hại là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản 1, Điều 134- Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng bị cáo Đ.V.A vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và việc xét xử vắng mặt bị cáo không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 351 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Kháng cáo của người bị hại là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận. Tại phiên tòa, người bị hại là chị T.T.H rút kháng cáo về phần đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại cho chị nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của chị H.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của người bị hại thì thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại là chị T.T.H cho rằng chị có cầm dao quắm nhưng không dùng để chém bị cáo. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai bị cáo, lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở để khẳng định: Do có mâu thuẫn từ trước trong việc bán hàng với chị T.T.H sinh năm 1984 ở khối 7, xã P.L (là mợ ruột của Đ.V.A) nên khoảng 07h30’ ngày 15/8/2018, tại đường Quốc lộ 18 thuộc địa phận khối 14, xã PL, huyện SS, thành phố Hà Nội giữa Đ.V.A và chị H xảy ra cãi vã, xô sát cãi chửi nhau. Trong khi xô sát Đ.V.A dùng điếu cày bằng tre (là hung khí nguy hiểm) vụt 01 cái vào đầu, vào người chị T.T.H. Hậu quả làm chị H bị tổn hại 02% (Hai phần trăm)sức khỏe. Do vậy, việc xét xử Đ.V.A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo đang có thai, bị cáo có nơi cư trú ổn định, từ đó cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Về án phí: Người bị hại kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1- Áp dụng khoản 2, Điều 348 - Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người bị hại chị T.T.H về phần dân sự. Phần dân sự tại bản án hình sự sơ thẩm số 184/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện SS thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

2- Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại chị T.T.H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 184/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện SS thành phố Hà Nội, cụ thể:

Áp dụng: điểm a, khoản 1, Điều 134; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 47- Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Đ.V.A: 09 (chín) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã PL, huyện SS, TP.Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chị T.T.H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


28
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về