Bản án 30/2017/HS-ST ngày 08/06/2017 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 

BẢN ÁN 30/2017/HS-ST NGÀY 08/06/2017 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 28-5-2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/TLST-HS ngày 11-5-2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/HSST-QĐ ngày 14-5-2017 đối với bị cáo:

Lê Xuân H, sinh năm 1974; HKTT, chỗ ở: Thôn A, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 01/12; Con ông Lê Xuân B và bà Trần Thị K; Vợ là: Trần Thị C, sinh năm 1977 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Năm 2016 bị Công an quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 27-6-2016, Tòa án nhân dân TP Hà Nội quyết định trả tự do và miễn trách nhiệm hình sự đối với H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị bắt tạm giữ từ ngày 07-4-2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt).

Người làm chứng: Anh Lê Tiến X, sinh năm 1987; trú tại địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa,  nội  dung  vụ  án  được  tóm  tắt  như  sau:  Khoảng  09  giờ  30  phút  ngày 07/4/2017, Lê Xuân H mang theo 115.000 đồng trong người là tiền riêng của H rồi đi bộ từ nhà mình ra Quốc Lộ 39A ở thôn T, xã B, thành Phố H, tỉnh Hưng Yên bắt xe Bus để lên xã T, huyện K tìm mua ma túy để sử dụng. H đã trả tiền xe hết 15.000 đồng. Khi đến địa phận xã T thì H xuống xe và đi bộ theo hướng đến Ủy ban nhân dân xã T để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, H gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 35 tuổi, có biểu hiện giống người nghiện ma túy, H tiến lại gần và hỏi: “Có biết chỗ nào bán ma túy không?” (ý muốn hỏi người này có biết chỗ nào bán ma túy không). Người đàn ông nói: “Tôi bán”. H lấy số tiền 100.000 đồng đưa cho người đàn ông này và nói: “Bán cho tôi 100.000 đồng”. Người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho H 01 gói giấy nhỏ (loại giấy vở học sinh) bên trong gói giấy có chứa chất màu trắng dạng cục và bột. H kiểm tra biết đó là Hêrôin nên cầm ở lòng bàn tay phải và đi bộ quay về. Khi H đi đến đoạn đường cánh đồng thuộc thôn B, xã T thì bị lực lượng Công an huyện K cùng Công an xã T kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 01 gói giấy nhỏ (loại giấy vở học sinh) bên trong gói giấy có chứa chất màu trắng dạng cục và bột.

Tại bản Kết luận giám định số 123/PC54 ngày 10/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong niêm phong thu của Lê Xuân H có trọng lượng: 0,200 gam là Hêrôin.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H do không xác định được tên, địa chỉ, nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Quá trình điều tra H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên.

Bản cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 09-5-2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lê Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Lê Xuân H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; Về xử lý vật chứng, tịch thu cho tiêu hủy 0,142 gam Hêrôin còn hoàn lại sau giám.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Lê Xuân H khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07-4-2017, H mang theo 115.000 đồng rồi đi bộ từ nhà ra Quốc Lộ 39A bắt xe Bus lên xã T, huyện K mua ma túy của người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền là 100.000 đồng, mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khoái Châu bắt và thu giữ của H 0,200 gam Hêrôin. Lời khai của Lê Xuân H phù hợp với lời khai của người làm chứng (anh X) và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, bị cáo Lê Xuân H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Lê Xuân H theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 09-5-2017 là có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là thanh niên, nhận thức rõ hành vi của mình.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lười lao động, bản thân bị cáo đã từng bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tuy đã được Tòa án nhân dân TP Hà Nội ra Quyết định miễn trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo được hưởng  tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội. Theo hướng có lợi cho bị cáo Hội đồng xét xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ hơn theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do, không có thu nhập, đang ở cùng gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan công an đã thu giữ của Lê Xuân H 0,200 gam Hêrôin, sau khi gửi đi giám định trọng lượng còn hoàn lại là 0,142 gam Hêrôin là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Lê Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Lê Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Lê Xuân H 01(một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-4-2017.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lê Xuân H.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,142 gam Hêrôin còn hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng, đặc điểm, số lượng, chủng loại vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-KSĐT ngày 09-5-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án.


206
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về