Bản án 30/2017/HS-ST ngày 08/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 30/2017/HS-ST NGÀY 13/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2017/HSST ngày 31/10/2017 đối với bị cáo:

Trần Văn A - Sinh năm: 1988; STQ tại: Xóm 2, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị N - Trú tại: xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2016 đến 29/10/2016 được tại ngoại - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Dương Thị Vân - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 5 thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa - Địa chỉ: Số 44 Trần Phú, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt

- Người bị hại: Anh Mai Trọng T - Sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Xóm 2, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22/10/2016, Mai Phi H ở xóm 1, huyện Y rủ Nguyễn Hữu Th đi bắn chim, Th đồng ý và mượn chìa khóa xe của chị Bùi Thị K (là vợ cũ của Th đến nhà Th chơi) để đi. Sau đó, H gọi điện thoại và rủ Trần Văn A đến nhà Th để đi bắn chim. Khi đi đến đoạn đường liên thôn gần Cầu đá thuộc xóm 2, xã Y, H và Th soi đèn tìm chim còn A đi vệ sinh, quan sát thấy chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36C - 144.45 của anh Mai Trọng T ở xóm 2, xã Y, huyện N dừng đỗ không có người trông coi, A nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy trên xe ô tô bán lấy tiền tiêu xài, A lại chỗ H và Th đang bắn chim hỏi Th “nhà mày có cờ lê không”, Th trả lời “có, đang để dưới gầm giường, anh hỏi để làm gì”, A không nói gì và đi về nhà Th lấy cờ lê, mỏ lết, kìm và kéo. Khoảng 15 phút sau ra gặp Th và H, A nói “ở xe ô tô có hai chiếc bình ắc quy dễ lấy, tao lại tháo trộm bán lấy tiền tiêu”, Th nói “ở đây gần làng xóm dễ bị phát hiện”, A nói “chúng mày cứ trông cho tao tháo”, Th đồng ý đứng ngoài quan sát. Sau đó A đi đến xe ô tô dùng đèn pin điện thoại soi và dùng kìm, kéo đã tháo và lấy được 2 bình ắc quy và ôm đi cất giấu ở bụi chuối gần đó. Sau đó, A đi lại chỗ Th để mượn xe đi tìm chỗ bán lấy tiền tiêu. Th đưa chìa khóa xe máy của chị Kh cho H về nhà mình lấy xe, còn A dẫn Th lại chỗ giấu bình ắc quy. H đi xe đến, A bê hai bình ắc quy đặt chồng lên trên yên xe phía sau Hà rồi ngồi ôm, Th ngồi phía sau xe. H điều khiển xe mô tô BKS 60C1 - 023.24 đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường phía sau chợ Nga Sơn thuộc Tiếu khu Hưng Long, thị trấn huyện Nga Sơn thì bị tổ tuần tra Công an huyện Nga Sơn kiểm tra. H bỏ chạy, A và Th bị bắt giữ cùng tang vật, phương tiện và công cụ phạm tội gồm: 01(một) chiếc kéo dài 22cm, lưỡi bằng sắt mầu nâu đã gỉ, cán bọc cao su màu xanh tím than; 01(một) kìm dài 18cm bằng sắt màu nâu, cán cầm được bọc nhựa màu đỏ; 01(một) cờ lê 13 màu trắng dài 17cm; 01(một) cờ lê một đầu 11, một đầu 13 màu trắng dài 20cm; 01(một) cờ lê một đầu 8, một đầu 10 màu trắng dài 12cm; 01(một) mỏ lết màu trắng dài 15cm; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu 1280, màu ghi đã qua sử dụng; 02 (hai) bình ắc quy vỏ màu trắng, nắp màu đen, kích thước (40x20x13)cm trên thân bình có dòng chữ dongnai N100-12V màu đỏ; 01(một) xe máy nhãn hiệu SYM, BKS 60C1 - 023.24.

Ngày 01/11/2016, Hội đồng định giá tài sản huyện Nga Sơn kết luận: 02 bình ắc quy nêu trên mà A, Th, H trộm cắp của anh T có giá trị 2.300.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn đã trả lại cho anh Mai Trọng T 02 bình ắc quy nói trên. Sau khi nhận lại tài sản anh T không yêu cầu gì.

Chiếc xe môtô BKS 60C1 - 023.24 là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Kh cho Th mượn. Sau đó, Th, H, A dùng xe chở tài sản trộm cắp đi tìm nơi tiêu thụ, chị Kh không biết. Ngày 07/11/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Kh.

Đối với Mai Phi H hiện bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn tiếp tục điều tra làm rõ khi đủ tài liệu, chứng cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Hữu Th đã bị TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử và kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS tại Bản án số 04/2017/HSST, ngày 29/3/2017; tang vật, phương tiện và công cụ phạm tội của vụ án đã được giải quyết triệt để tại bản án trên 

Đối với Trần Văn A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 11 ngày 23/01/2017, trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định để xác định năng lực hành vi của Trần Văn Anh. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 228/KLGĐ ngày 04/7/2017 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Trần Văn A bị bệnh rối loạn cơ thể hóa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F45.0 Trần Văn A có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 27/CTr-VKS-KT ngày 30/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 60,; khoản 1 Điều 138 BLHS đề nghị xử phạt Trần Văn A từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn A là bà Dương Thị Vân thống nhất với quan điểm của đại diện VKS; đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm h, p, n khoản 1 Điều 46 và Điều 47 BLHS để xử phạt Trần Văn A ở mức án thấp nhất của khung hình phạt và cho phép bị cáo được chấp hành án tại địa phương, để có cơ hội cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS và thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo đề nghị HDXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng.

XÉT THẤY

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp và thống nhất với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Lợi dụng sự chủ quan, sơ hở của chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng tài sản, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/10/2016, các đối tượng Trần Văn A, Mai Phi H và bị cáo Nguyễn Hữu Th đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Trần Văn A cùng các đối tượng đã trộm cắp 02 bình ắc quy tại xe ô tô BKS 36C-144.45 là tài sản của anh Mai Trọng T. Sau đó, cùng nhau mượn xe mô tô BKS 60C1-023.24 chở 02 bình ắc quy đi tìm nơi tiêu thụ. Tại biên bản kết luận định giá tài sản ngày 01/11/2016 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nga Sơn: 02 bình ắc quy có tổng trị giá là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Vì vậy, VKSND huyện Nga Sơn truy tố bị cáo Trần Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, khởi xướng và trực tiếp thực hiện là bị cáo Trần Văn A, còn Nguyễn Hữu Th và Mai Phi H là vai trò giúp sức. Hành vi phạm tội của bị cáo A và các đối tượng là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nhất là loại tội phạm trộm cắp. Hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự.

Song HĐXX cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo hiện nay có bệnh tâm thần phân liệt. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm h, p, n khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo ngoài lần phạm tội này, trước đó bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào khác, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Do vậy, HĐXX nghĩ không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà lên cho bị cáo một mức án trong khung hình phạt của điều luật và được chấp hành án tại địa phương, để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người công dân tốt và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự, tang vật, phương tiện và công cụ phạm tội đã được giải quyết tại Bàn án số 04/2017/HSST ngày 29/3/2017 của TAND huyện Nga Sơn.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn A phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm h, p, n khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 60 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn A 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Trường hợp người được xử tù nhưng cho hưởng án treo nếu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn A phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bản án này là sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2017/HS-ST ngày 08/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:30/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về