Bản án 30/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 30/2018/HS-ST NGÀY 07/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnQuảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:24/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/HSST-QĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Văn A, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2000, tại xã Quảng X, huyện Quảng Trạch, tỉnh

Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn Xuân H, xã Quảng X, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ văn hoá: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết), con bà Nguyễn Thị H; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/5/2018, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A: ông Phan Trọng H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, cómặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn A: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; trú tại: thôn Xuân H, xã Quảng X, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Ch (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: chị Đậu Thị X, sinh năm 1980; trú tại: thôn Hòa B, xã Quảng H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1997; trú tại: thôn Xuân H, xã Quảng X, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Anh Hoàng H, sinh năm 1998; trú tại: thôn Xuân H, xã Quảng X, huyệnQuảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/3/2018, Nguyễn Văn A cùng với Nguyễn Minh T, Hoàng H, Nguyễn Minh Th và Nguyễn Thanh T ngồi nhậu tại nhà của Nguyễn Minh T ở thôn Xuân H, xã Quảng X, huyện Quảng Trạch. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày cả nhóm nhậu xong và rủ nhau ra Ròon chơi. Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 73E1-223.48 màu sơn trắng xanh, chở T ngồi phía sau, đi từ nhà T ra quốc lộ1A theo hướng Nam – Bắc đi ra Ròon, còn T, Th và H đi một xe mô tô do T điều khiển chạy phía sau. Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô đi ở làn đường dành cho xe cơ  giới tiếp giáp với làn đường dành cho xe thô sơ, đi với tốc độ khoảng 65 –70Km/h. Khi đang điều khiển xe, A thấy có một chiếc xe ô tô loại xe khách (không rõ biển số) chạy phía trước cùng chiều ở làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp với giải phân cách cứng. Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước, sau khi vượt qua xe khách khoảng 60 mét thì A phát hiện thấy phía trước có bà Nguyễn Thị Ch đang đội nón đi bộ dáng lưng khom, một tay chống gậy, trên lưng có mang theo bì lác đi qua đường theo hướng Tây – Đông, đang đi ở vị trí giữa làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp với làn đường dành cho xe thô sơ (khoảng cách Nguyễn Văn A nhìn thấy bà Châu đi bộ là 5 – 6 mét). A điều khiển xe mô tô đánh lái lách sang bên trái (theo hướng Nam – Bắc), nhưng xe đang chạy với tốc độ nhanh, không làm chủ được tốc độ nên xe mô tô của A đã đâm va vào bà Ch. Sau khi xảy ra va chạm, xe mô tô do A điều khiển bị loạng choạng tay lái nên cả xe và người bị ngã trượt về phía Bắc, còn bà Ch bị hất văng sang bên phải đường theo hướng Nam – Bắc, nằm ở làn đường dành cho xe thô sơ và bị đứt lìa chân trái 1/3 giữa cẳng chân. Lúc này Nguyễn Văn A đi lại chỗ bà Ch, dùng tay nâng đầu bà Ch lên thì thấy mặt bà Ch chảy nhiều máu, sau đó thấy một số người dân chạy ra thì A đở đầu bà Ch nằm xuống, đi bộ lại xe mô tô thấy Hoàng H đang đứng ở gần xe mô tô của A, A ngồi lên xe chở H chạy theo hướng Nam – Bắc, nhưng do xe bị xẹp bánh, tráng vành nên A chạy vào nhà của K ở thôn Xuân H, xã Quảng Ph. Bà Ch được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới, đến ngày 25/3/2018 thì tử vong. Còn Nguyễn Minh T ngồi phía sau xe của A điều khiển bị thương nhẹ, bị xây xát da ở hai đầu gối chân, xây xát da ở phía trước và sau phần hông bên trái, xe mô tô BKS 73E1- 22348 bị hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông: là đoạn đường Quốc lộ 1A, đường được rãi nhựa bằng phẳng, mặt đường tổng thể là 19,5 mét, ở giữa tim đường có giải phân cách cố định chia đôi phần đường, trên mặt đường có các vạch sơn kẻ đường, phân chia làn đường cho các phương tiện, báo hiệu giảm tốc, hai bên đường xảy ra tai nạn có biển báo hiệu cho phép người đi bộ qua đường, biển báo hiệu cho phép quay đầu xe. Khu vực xảy ra tai nạn là khoảng mở của đường Quốc lộ 1A, khoảng mở rộng 27 mét.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định điểm đâm va trên đường giữa xe mô tô BKS 73E1-223.48 với người tại vùng dịch nước có hình dạng đứt quãng tạo thành tia có hướng Tây Nam – Đông Bắc, kích thước 7,7 mét x 1,8 mét. Tâm điểm đầu của vùng dịch nước cách mép đường bên phải 3,4 mét, tâm điểm cuối của vùng dịch nước cách mép đường bên phải 0,8 mét. Quá trình va chạm xe mô tô bị ngã trượt trên mặt đường để lại vết cà trượt liền nét in trên mặt đường Quốc lộ 1A. Vết cà trượt có hướng từ Nam ra Bắc, có kích thước 3,2 mét x 0,02 mét. Tâm điểm đầu của vết cà trượt cách mép đường bên phải là 5,05 mét, tâm điểm cuối của vết cà trượt cách mép đường bên phải là 5,6 mét.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 90/TT ngày 05/4/2018 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: Sốc do đứt lìa chân trái ở 1/3 cẳng chân, vết thương dập nát da, cơ nham nhở ở 1/3 trên và 1/3 giữa cẳng chân trái, đứt các mạch máu, thần kinh và xương 1/3 giữa cẳng chântrái. Nguyên nhân chết: Sốc do đứt lìa chân trái ở 1/3 giữa cẳng chân.

Về vật chứng của vụ án: quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ và trả lại cho chủ sơ hữu chị Nguyễn Thị H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS 73E1-223.48, số khung 462303, số máy 462041, màu sơn trắng – xanh, xe củ đã qua sử dụng, bị hư hỏng ở phần đầu và mang xe bên phải; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 000415 do Công an huyện Quảng Trạch cấp ngày 10/11/2014 mang tên Nguyễn Thị Hồng; 01 mãnh nhựa kích thước 14,5 cm x 39,5 cm, mặt ngoài sơn màu xanh bạc, mặt trong màu xám, bờ mép nham nhở; 01 mảnh nhựa có kích thước 30 cm x 18,5 cm, mặt ngoài sơn màu xanh, bạc, mặt trong màu xám, bờ mép nham nhở.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn A, chị Nguyễn Thị H là người đại diện hợp pháp của bị cáo và gia đình của người bị hại Nguyễn Thị Ch đã thỏa thuận bồi thường một lần các khoản chi phí với tổng số tiền 100.000.000 đồng.

Đại diện phía người bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, cam đoan không khiếu nại, khiếu kiện gì thêm về dân sự và làm đơn bãi nại cho bị cáo.

Anh Nguyễn Minh T là người đi cùng xe với bị cáo bị ngã và xây xước nhẹ nên không yêu cầu bị cáo A bồi thường về mặt dân sự và đã có đơn từ chối giám định thương tích.

Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSQT ngày 17 tháng 8 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a và điểm c, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, 91 và Điều 101 BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: miễn xét.

Người bào chửa cho bị cáo Nguyễn Văn A đồng nhất quan điểm về tội danh và hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tuy nhiên: quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, bồi thường kịp thời đầy đủ cho gia đình bị hại; gia đình bị cáo hoàn cảnh hết sức đặc biệt khó khăn, bố mất sớm, hiện tại cả gia đình bị cáo không có nhà ở, đang phải ở nhờ nhà của dì ruột, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm Điều 54 BLHS để cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt khoảng từ 24 – 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A cũng đồng nhất quan điểm với người bào chữa cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát phiên tại phiên tòa, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện Quảng Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về cấu thành tội phạm: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn A đã khai và thừa nhận nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông giữa xe mô tô BKS 73E1-223.48 do bị cáo điều khiển chở phía sau anh Nguyễn Minh T đã đâm vào gười bà Nguyễn Thị Ch vào ngày 24/3/2018 tại địa phận thôn Hưng L, xã Quảng H là hoàn toàn do lỗi của bị cáo điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe theo quy định, không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường. Quá trình tham gia giao thông lại có ý thức chủ quan, cẩu thả. Tại đoạn đường phía trước có biển báo giảm tốc độ, biển báo dành cho người đi bộ qua đường và đang có xe ô tô khách lưu thông phí trước cùng chiều, nhưng bị cáo không giảm giảm tốc độ, vượt xe khách, nên khi phát hiện thấy có người đi bộ qua đường phía trước đã không xử lý kịp thời và gây ra tai nạn. Sau khi gây tai nạn, bị cáo lại rời khỏi hiện trường. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 8, 9, 17 Điều 8, khoản 2 Điều 30 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải. Hậu quả làm chết một người.

Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn A đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, xét thấy cần quyết định cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhận thức được việc làm sai trái của mình. Sau khi gây ra tai nạn bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại và được đại diện phía gia đình bị hạilàm đơn bãi nại; gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bố mất sớm, cả gia đình bị cáo hiện đang ở nhờ nhà cùng với dì ruột (đơn trình bày được UBND xã Quảng X xác nhận), mẹ của bị cáo thường xuyên đau ốm, nhưng phải thường xuyên đi làm thuê xa. Bị cáo mặc dù chưa đủ 18 tuổi, nhưng cũng phải đi theo cậu ruột tập làm nghề đánh bắt cá biển để kiếm thêm thu nhập. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, tại thời điểm phạm tội và xét xử bị cáochưa đủ 18 tuổi, vì vậy HĐXX nghĩ chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà cần áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và chính sách nhân đạo của pháp luật để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đã đủ nghiêm, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Trong quá trình điều tra bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và đại diện gia đình người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường một lần các khoản chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 100.000.000 đồng. Xétsự thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện nên cần được ghi nhận. Hiện tại bị cáo đã bồi thường đầy đủ, cho đến tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]Về xử lý vật chứng: Vật chứng liên quan đến vụ án được tạm giữ để phục vụ điều tra theo quy định và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên cơ quan có thẩm quyền quyết định trả lại theo đúng số lượng, chủng loại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà không ai có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, 91, 101 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/11/2018). Giao bị cáo Nguyễn Văn A về cho Uỷ ban nhân dân xã Quảng X, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: miễn xét

3. Về xử lý vật chứng: miễn xét

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt) hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ (đối với người vắng mặt)./.

(Đã giải thích chế định của án treo)


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về