Bản án 30/2019/HSST ngày 26/04/2019 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 30/2019/HSST NGÀY 26/04/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày  26  tháng  4  năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai  tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2019/HSST ngày 22/3/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 01/7/1994, tại Văn Yên, Yên Bái. Nơi cư trú:Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Lương Thị D, sinh năm 1954, trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: có 03 tiền sự: Ngày 29/01/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Mua dâm”. Ngày 15/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Ngày 8/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - có mặt.

2. Họ và tên: Trần Bá H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 15/02/1998, tại Bảo Thắng, Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá T, sinh năm 1975 và bà Trần Thị C, sinh năm 1977, cùng trú tại thôn Trang N, xã Xuân Q, Hện B, tỉnh Lào Cai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 15/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - có mặt.

Người chứng kiến: Anh Lùng Ỷ H;

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện M, tỉnh Lào Cai;

Nơi làm việc: Nhân viên Khách sạn N, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo  các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, tổ công tác đội Cảnh sát ma túy Công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 15, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai phát hiện hai người nam giới đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu HONDA-WAVE, biển kiểm soát 33N4-4494 đỗ tại sân sau của khách sạn Ngôi Sao có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính, trước sự chứng kiến của anh Lùng Ỷ H. Các bị cáo Lê Văn T, Trần Bá H đều khai nhận đang cất dấu ma túy trên người, bị cáo Lê Văn T đã tự lấy từ trong tay áo khoác bên trái đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 07 (bảy) viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 03 (ba) viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương giao nộp cho tổ công tác. Lê Văn T khai nhận các túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng là ma túy Ketamine, các túi nilon màu trắng chứa các viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương là ma túy kẹo. Bị cáo Trần Bá H tự lấy từ trong túi quần dài bên phải đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 15 (mười lăm) viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương giao nộp cho tổ công tác. Bị cáo Trần Bá H khai nhận túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng là ma túy Ketamine, túi nilon màu trắng chứa các viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương là ma túy kẹo của bị cáo Lê Văn T đưa cho bị cáoTrần Bá H mang đi bán với giá 16.500.000đ( mười sáu triệu năm trăm ngàn đồng) thì sẽ được Bị cáo T trả công 200.000đ( hai trăm ngàn  đồng). Mục đích của các bị cáo Lê Văn T,Trần Bá H đến khu vực trên để bán ma túy.Tổ công tác đã dẫn giải các bị cáo Lê Văn T, Trần Bá H về trụ sở Công an thành phố Lào Cai lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngoài ra,còn tạm giữ của bị cáo Lê Văn T 01( một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s PLUS có IMEI 353328078551320 và 01 (một) xe máy hiệu HONDA- WAVE biển kiểm soát 33N4-4494. Tạm giữ của bị cáo Trần Bá H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5c có số IMEI 358540059887458.

Ngày 17/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai ra quyết định trưng cầu giám định số 21 đối với vật chứng đã thu giữ của bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H. Tại biên bản mở niêm phong vật chứng ngày 18/12/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định, xác định:

- Bì M1: Vật chứng thu giữ của Trần Bá H

+ Mẫu M1: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 2,71gam. Cơ quan giám định trích 0,32 gam để giám định. Còn lại 2,39 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

+ Mẫu M2: 15 viên nén hình tròn, màu cam, có ĐK 0,8cm và bề dày 0,6 cm. Trên một mặt mỗi viên nén đều được dập chìm hình viên kim cương có khối lượng 5,12 gam. Cơ quan giám định trích 1,35 gam để giám định. Còn lại 3,77 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

- Bì M2: Vật chứng thu giữ của Lê Văn T

+ Túi 1: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,16gam. Cơ quan giám định trích mẫu 0,07 gam để giám định. Còn lại 0,09 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

+ Túi 2: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,69 gam. Cơ quan giám định trích mẫu 0,17 gam để giám định. Còn lại 0,52 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

+ Túi 3: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 1,37 gam. Cơ quan giám định trích mẫu 0,22 gam để giám định. Còn lại 1,15 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

+ Túi 4 và túi 5: Có 10 viên nén hình tròn, màu cam, có ĐK 0,8cm và bề dày 0,6 cm. Trên một mặt mỗi viên nén đều được dập chìm hình viên kim cương có khối lượng 3,42 gam. Cơ quan giám định trích 1,01 gam để giám định. Còn lại 2,41 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

Tại kết luận giám định số 26/GĐMT ngày 20/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

- Bì M1: Vật chứng thu giữ của Trần Bá H

+ Mẫu M1: các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 2,71 gam là loại chất ma túy Ketamine.

+ Mẫu M2: Viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 5,12 gam là loại chất ma túy MDMA.

- Bì M2: Vật chứng thu giữ của Lê Văn T

+ Túi 1: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,16 gam là loại chất ma túy Ketamine.

+ Túi 2: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,69 gam là loại chất ma túy Ketamine.

+ Túi 3: Các hạt tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 1,37 gam là loại chất ma túy Ketamine.

+ Túi 4 và Túi 5: Viên nén hình tròn, màu cam 3,42 gam là loại chất ma túy MDMA.

Cáo trạng số  33/CT-VKSTPLC  ngày  22/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lê Văn T và bị cáoTrần Bá H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p Khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Lê Văn T, Trần Bá H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mục đích để bán kiếm lời. Bị cáo Lê Văn T là người trực tiếp đi lấy 4,93 gam ma túy loại Ketamine và 8,54 gam ma túy loại MDMA để bán, bị cáo Trần Bá H đồng phạm với bị cáo Lê Văn T đã đem bán là 2,71 gam chất ma túy Ketamine và 5,12 gam chất ma túy MDMA. Do đó các bị cáo Lê Văn T, Trần Bá H phải chịu trách nhiệm hình sự với trọng lượng số ma túy mà các bị cáo đã bị thu giữ. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. Do đó,Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Văn T,Trần Bá H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm p Khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử  phạt bị cáo Lê Văn T từ  07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, số tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ

Áp dụng điểm p Khoản  2 Điều 251;  điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Bá H từ  07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sựTịch thu tiêu huỷ: 4,15 (bốn phẩy mười lăm) gam Ketamine và 6,18 (Sáu phẩy mười tám) gam MDMA.

Tịch thu:  01 (một) xe máy hiệu HONDA-WAVE biển kiểm soát 33N4-4494 của bị cáo Lê Văn T để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s PLUS có IMEI 353328078551320 của bị cáo Lê Văn T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5c có số IMEI 358540059887458 của bị cáoTrần Bá H để đảm bảo công tác thi hành án.

Ngoài ra, còn đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiển sát viên Viện kiển sát nhân dân thành phố Lào Cai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, sơ đồ vị trí bắt quả tang, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn T và bị cáoTrần Bá H khai nhận do hám lợi, bản thân không có việc làm, các bị cáo đã bán ma túy cho người khác, để bán kiếm lời nên vào khoảng 00 giờ ngày 17/12/2018, bị cáo Lê Văn T điều khiển xe máy hiệu HONDA-WAVE, biển kiểm soát 33N4-4494 chở  bị cáo Trần Bá H đi ăn đêm. Khi đi đến gần khách sạn Như Ý, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, bị cáo T  nhận được điện thoại của một người phụ nữ nói thuê bị cáo đi bán ma túy và hẹn gặp bị cáo T  tại khu vực phố Tèo thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai để đưa ma túy. Bị cáo Lê Văn T đồng ý, bị cáo điều khiển xe máy chở bị cáo Trần Bá H đến khu vực cổng đền Mẫu thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai bảo bị cáo H xuống xe ngồi đợi. Bị cáo T điều khiển xe đi đến khu vực phố Tèo, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai gặp một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ). Người phụ nữ đưa cho bị cáo T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 15 (mười lăm) viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương. Người phụ nữ nói “bên trong có 03 (ba) chỉ  Ke và 15 (mười lăm) viên kẹo” bảo bị cáo Lê Văn T mang đến sân sau của khách sạn Ngôi Sao thuộc tổ 15 phường Cốc Lếu bán cho người mua ma túy rồi lấy về 16.500.000đ (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) và hứa hẹn sau khi bán được ma túy cầm tiền về, người phụ nữ sẽ cho bị cáoT số tiền 500.000đ(năm trăm nghìn đồng). Bị cáo Lê Văn T đồng ý và nhận số ma túy trên cất dấu vào trong túi quần bên trái đang mặc. Người phụ nữ đưa tiếp cho bị cáo T 01 (một) túi nilon màu trắng và nói bên trong có chứa ma túy Ke và ma túy kẹo và  bảo bị cáo Lê Văn T cất gói ma túy, khi nào có người mua sẽ gọi điện thoại và hướng dẫn bị cáo Lê Văn T mang đi bán. Bị cáo T đồng ý và cất dấu số ma túy trên vào trong tay áo khoác bên trái đang mặc. Sau đó, bị cáo Lê Văn T điều khiển xe máy quay lại khu cực cổng đến Mẫu đón bị cáo Trần Bá H. Khi đi đến gần sân sau của khách sạn Ngôi Sao, bị cáo T lấy từ túi quần bên trái đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01(một) túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trắng chứa 15 (mười lăm) viên nén hình tròn màu cam trên một mặt của mỗi viên nén được dập chìm hình viên kim cương đưa cho bị cáo Trần Bá H và nói “bên trong có 03 (ba) chỉ Ke và 15 (mười lăm) viên kẹo, cầm vào bên trong sảnh sau khách sạn Ngôi Sao bán rồi lấy về 16.500.000đ (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng)”. Bị cáo T hứa sau khi bán được ma túy sẽ cho bị cáo H số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Bị cáo H đồng ý và cất dấu số ma túy trên vào trong túi quần dài bên phải đang mặc. Bị cáo Lê Văn T chở  bị cáo Trần Bá H vào khu vực sân sau của khách sạn Ngôi Sao để bán ma túy thì bị tổ công tác đội Cảnh sát ma túy Công an thành phố Lào Cai kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 17/12/2018  bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Trong đó bị cáo Lê Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng là 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam Ketamine và 8,54 (tám phẩy năm mươi tư) gam MDMA; bị cáo Trần Bá H phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị thu giữa là 2,71 (hai phẩy bẩy mươi mốt) gam  Ketamine và 5,12 (năm phẩy mười hai) gam MDMA. Hành vi của các bị cáo Lê Văn T, Trần Bá H đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn về ma tuý trên địa bàn thành phố Lào Cai. Bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H là người có đầy đủ năng lực hành vi, có sự hiểu biết xã hội. Các bị cáo nhận biết rõ Ketamine và MDMA là chất ma túy mà pháp luật Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì hám lời muốn có tiền tiêu sài cho bản thân, các bị cáo đã không có ý thức chấp hành pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có tiền sự: Đối với Lê Văn T có 03 tiền sự: Ngày 29/01/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Mua dâm”.  

Ngày 15/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Ngày 8/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “ Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; Bị cáo Trần Bá H có 01 tiền sự: Ngày 15/6/2018 bị Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính “ Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học, mà vẫn tiếp tục phạm tội về ma túy.Vì vậy, đối với bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[3] Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ. Đối với bị cáo Lê Văn T là người chủ mưu, là người trực tiếp đi lấy ma túy về để bán. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò chính trong vụ án và chịu trách nhiệm hình sự với tổng số ma túy thu giữ có khối lượng là 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam Ketamine và 8,54 (tám phẩy năm mươi tư) gam MDMA. Bị cáo Trần Bá H đồng phạm với bị cáo Lê Văn T với vai trò là người thực hành và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy thu giữ có khối lượng là  2,71 (hai phẩy bẩy mươi mốt) gam  Ketamine và 5,12( năm phẩy mười hai) gam MDMA.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi phạm tội trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Ngoài ra, bị cáo Lê Văn T có bố đẻ là ông Lê Văn Thắng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, do vậy bị cáo Lê Văn T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc cấm làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã thu giữ số ma túy của các bị cáo Lê Văn T và Trần Bá H với tổng trọng lượng là 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam Ketamine và 8,54 (tám phẩy năm mươi tư) gam MDMA. Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo của Lê Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s PLUS có IMEI 353328078551320 và 01 (một) xe máy hiệu HONDA-WAVE biển kiểm soát 33N4-4494. Thu giữ của Trần Bá H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5c có số IMEI 358540059887458.

Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo Lê Văn T và Trần Bá H với tổng trọng lượng là 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam Ketamine và 8,54 (tám phẩy năm mươi tư) gam MDMA, cơ quan giám định đã trích mẫu để tiến hành giám định. Số vật chứng còn lại là 4,15 (bốn phẩy mười lăm) gam Ketamine và 6,18 (sáu phẩy mười tám) gam MDMA được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai hoàn trả cơ quan trưng cầu. Đây là chất ma tuý nhà nước cấm lưu hành,vì vậy, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA-WAVE biển kiểm soát 33N4-4494 thu  giữ của bị cáo Lê Văn T. Đây là tài sản bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s PLUS có IMEI 353328078551320 thu giữ của bị cáo Lê Văn T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5c có số IMEI 358540059887458 thu giữ của bị cáo Trần Bá H. Đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên các bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với người phụ nữ đã  liên lạc bằng điện thoại để gặp và đưa ma túy cho bị cáo Lê Văn T ngày 17/12/2018 tại khu vực phố Tèo thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn T khai nhận không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người phụ nữ. Ngoài lời khai của bị cáo  không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không điều tra, làm rõ được, khi nào xác minh, làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen bị cáo Lê Văn T dùng để liên lạc với người phụ nữ ngày 17/12/2018. Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn T khai nhận: Sau khi liên lạc với người phụ nữ bị cáo đã làm rơi chiếc điện thoại trên đường, bản thân bị cáo không nhớ số điện thoại của người phụ nữ. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu khác để chứng minh. Do vậy  không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Văn T và Trần Bá H mỗi bị cáo phải chịu phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm p Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1, khoản 2  Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 17/12/2018.

Áp dụng điểm p Khoản 2  Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Bá H  07(bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 17/12/2018.

2.Về vật chứng của vụ án:  Áp dụng điểm  a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 4,15 (bốn phẩy mười lăm) gam Ketamine và 6,18 (sáu phẩy mười tám) gam MDMA được tái niêm phong trên một mặt của bì thư có ghi: Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Lê Văn T và Trần Bá H có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 17/12/2018  tại tổ 15, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Tịch thu 01 (một) xe máy hiệu HONDA-WAVE biển kiểm soát 33N4-4494 của bị cáo Lê Văn T để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s PLUS có IMEI 353328078551320 của bị cáo Lê Văn T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5c có số IMEI 358540059887458 của bị cáoTrần Bá H để đảm bảo công tác thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/04/2019)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Bá H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7,7a,7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2019/HSST ngày 26/04/2019 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:30/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về