Bản án 306/2019/HS-ST ngày 27/09/2019 về tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 306/2019/HS-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 304/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành Ch, sinh năm 1986 tại tỉnh Thái Bình; thường trú: Số 106 đường Đ T Ph, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Duy Ngh, sinh năm 1961 và bà Trần Thị S, sinh năm 1964; có 02 chị, em ruột, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1994; bị cáo có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: không, tiền sự: Ngày 27/4/2018, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã D A, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính 40.000.000 đồng về hành vi Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, đóng tiền phạt xong vào ngày 03/7/2019; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị S, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 106 đường Đ T Ph, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã ĩ A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 106 đường Đ T Ph, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 10/6/2019, Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính tiệm tạp hóa “Th H” tại địa chỉ số 106, đường Đ T Ph, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Thành Ch tàng trữ 11 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 bao thuốc lá hiệu Caraven A. Công an thị xã D A tiến hành lập biên bản và niêm phong toàn bộ số thuốc lá trên để điều tra. Quá trình điều tra, Nguyễn Thành Ch xác định toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu trên là của Ch mua lại của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 05/6/2019 để bán lại cho người khác kiếm lời. Do Nguyễn Thành Ch có 01 tiền sự ngày 27/4/2018 bị Uỷ ban nhân dân thị xã D A, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, với số tiền 40.000.000 đồng. Ch đóng tiền phạt ngày 03/7/2019, chưa được xóa tiền sự nên Ch tiếp tục tàng trữ hàng cấm nên ngày 25/6/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành Ch về tội Tàng trữ hàng cấm để điều tra cho đến nay.

Đối với người đàn ông bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Thành Ch, do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh khi nào đủ căn cứ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 323/CT-VKS-DA ngày 05 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Thành Ch về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D A giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Ch từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: 11 (mười một) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 (hai mươi ba) bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 (một) bao thuốc lá hiệu Caraven A, 01 (một) thùng nhựa màu vàng (đã niêm phong) thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành Ch cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Ngày 27/4/2018, Nguyễn Thành Ch là chủ cửa hàng tạp hóa “Th H” tại địa chỉ số 106, đường Đỗ Tấn Ph, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương bị Ủy ban nhân dân thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt hành chính 40.000.000 đồng về hành vi Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, Ch đóng tiền phạt vào ngày 03/7/2019. Ch chưa được xóa tiền sự nhưng đến ngày 10/6/2019, Công an thị xã D A đi kiểm tra hành chính tiệm tạp hóa của Ch phát hiện Ch đang tàng trữ 11 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 bao thuốc lá hiệu Caraven A.

[3] Hành vi của bị cáo Ch tàng trữ hàng cấm là 11 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 bao thuốc lá hiệu Caraven A, tuy dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng bị cáo Ch đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu chưa được xóa tiền sự nay tiếp tục vi phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 323/CT-VKS-DA ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông (kinh doanh). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Tuy bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm chưa được xóa tiền sự nhưng đây là tình tiết định tội “Tàng trữ hàng cấm” đang xét xử và ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú và không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nào khác nên được xem là có nhân thân tốt.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và là người lao động, đang nuôi dưỡng con nhỏ đồng thời trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú. Đồng thời do áp dụng hình tù có điều kiện đối với bị cáo nên cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 106/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ, hình phạt tù có điều kiện cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Xử lý vật chứng: Xét 11 (mười một) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 (hai mươi ba) bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 (một) bao thuốc lá hiệu Caraven A, 01 (một) thùng nhựa màu vàng (đã niêm phong) thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành Ch là vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với người đàn ông bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Thành Chung, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh khi nào đủ căn cứ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận. Về hình phạt, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm, có nhân thân tốt, số lượng tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo nhỏ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2017 để áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú đồng thời quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Ch phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.

Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thành Ch cho Ủy ban nhân dân phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Ch thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 106/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 11 (mười một) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 23 (hai mươi ba) bao thuốc lá điếu hiệu Esse, 01 (một) bao thuốc lá hiệu Caraven A, 01 (một) thùng nhựa màu vàng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành Ch phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về