Bản án 31/2017/HCST ngày 28/06/2017 về khiếu kiện quyết định và hành vi hành chính giải quyết khiếu nại đất đai​​​​​​​

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 31/2017/HCST NGÀY 28/06/2017 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH VÀ HÀNH VI HÀNH CHÍNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐẤT ĐAI

Ngày 28 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý 36/2017/TLST-HC ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định và hành vi hành chính về việc giải quyết khiếu nại về đất đai”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2017/QĐXXST-HC ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1982 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Ô, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

2. Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật của UBND huyện P: Ông Đinh Khoa T – Chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện P.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang – Ông Đinh Khoa T (cóđơn đề nghị giải  quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 02, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện ông Lê Thanh H trình bày:

Vào năm 2002, ông Lê Thanh H có khai khẩn một thửa đất đo đạc thực tế là 4.648,5m2  tại ấp Ô, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang, được ông Lê Văn T là Phó trưởng ấp biết và xác nhận. Sau khi khai khẩn, ông H có đào mương, lên líp để nuôi cá và trồng cây…

Năm 2008 một số hộ dân có đất nằm gần diện tích đất của ông H đã được Nhà nước đo đạc, lập phương án đền bù, thu hồi đất để giao cho các nhà đầu tư. Nhưng phần đất ông H đang sử dụng lại không được đo đạc để lập phương án.

Ông H đã làm đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện P yêu cầu được đo đạc diện tích đất sử dụng và lập phương án đền bù.

Sau đó ông H được đo đạc diện tích đất và kiểm kê tài sản trên đất. Nhưng không thấy UBND huyện lập phương án đền bù. Ngày 02/6/2016 ông H tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND huyện P. Ngày 12/01/2017 UBND huyện ban hành Công văn số 19/UBND-NCPC về việc trả lời đơn của ông H, trong đó có nội dung giải quyết khiếu nại như sau:

“Ngày  10/12/2007  UBND  tỉnh  Kiên  Giang  ban  hành  Quyết  định  số2509/QĐ-UBND về việc giao đất cho Ban Quản lý Đầu tư Phát triển đảo P tại ấp Ô, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang để bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng khu du lịch sinh thái Đảo P. Đến khoảng năm 2008 ông Lê Thanh H vào bao chiếm phát dọn nhưng chưa trồng trọt gì. Đến năm 2013 ông H đào mương, lên líp, trồng tràm bông vàng và đào.

Ngày 02/6/2016 ông H làm đơn gửi đến UBND huyện yêu cầu được xem xét được lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 4.648,5m2  và cây trồng.

Qua kiểm tra, xác minh: Ông Lê Thanh H bao chiếm sử dụng đất do Ban Quản lý Đầu tư Phát triển đảo P (nay là Ban Quản lý Khu kinh tế P) quản lý, khoảng năm 2013. Từ đó, đối chiếu với chính sách pháp luật về đất đai, việc ông H yêu cầu được xem xét lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tíc 4.648,5m2  là không phù hợp với Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; yêu cầu bồi thường về cây trồng là không phù hợp Điều 3, Chương 2 bảng quy định đơn giá bồi thường về cây trồng, hoa  màu  trên  địa  bàn  tỉnh  Kiên Giang (ban hành kèm theo  Quyết  định 31/2008/QĐ-UBND ngày 20/10/2008 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc ban hành bảng quy định đơn giá bồi thường về cây trồng, hoa màu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 

Do đó, việc ông H yêu cầu xem xét lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 4.648,5m2 và cây trồng là không đủ điều kiện”.

Ông H cho rằng UBND huyện P ban hành Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 giải quyết đơn khiếu nại bằng công văn không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại là trái với quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại. Về nội dung của Công văn số 19 khẳng định ông H không đủ điều kiện được bồi thường là không đúng vì diện tích 4.648,5m2  là do ông H khai phá từ năm 2002, khi sử dụng không ai tranh chấp, có thành quả trên đất là đủ điều kiện để xem xét bồi thường, hỗ trợ. UBND huyện P đã thu hồi đất của gia đình ông H nhưng không có quyết định thu hồi để ông được nhận bồi thường, hỗ trợ là gây thiệt hại cho gia đình ông.

Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang hủy Công văn số19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P và buộc Chủ tịch UBND huyện P phải giải quyết khiếu nại theo đơn ngày 02/6/2016 của ông H theo hướng chấp nhận yêu cầu được lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 4.648,5m2 và cây trồng, vật kiến trúc trên đất tọa lạc tại tổ 3, ấp Ô, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người bị kiện UBND huyện P và Chủ tịch UBND huyện P đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhưng không có văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông H và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ngày 22/6/2017, ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại văn bản này, ông H rút lại yêu cầu buộc Chủ tịch UBND huyện P ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lại theo hướng chấp nhận đơn khiếu nại của ông H. Vì phần đất diện tích 4.648,5m2  hiện nay ông vẫn đang quản lý sử dụng, khi nào quyền lợi của ông bị xâm phạm thì ông sẽ tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa. Ông H chỉ yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P.

Đại diện VKSND tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ kiện đúng thẩm quyền, tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người khởi kiện đều tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính. Ngày 22/6/2017, ông Lê Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án xét xử vắng mặt ông H là đúng quy định. Người bị kiện chưa chấp hành nghĩa vụ về cung cấp tài liệu, chứng cứ quy định tại Điều 78 Luật Tố tụng hành chính mặc dù đã nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án. Việc vắng mặt của đại diện UBND huyện P và Chủ tịch UBND huyện P gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử hủy Công văn số 19/UBND- NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P vì công văn này ban hành vi phạm khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại quy định các hành vi bị nghiêm cấm ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại là của Chủ tịch UBND huyện P theo quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại không thuộc thẩm quyền của UBND huyện P. Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại: UBND huyện P không thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Luật Khiếu nại.

Ngày 22/6/2017, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đồng thời rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Chủ tịch UBND huyện P giải quyết khiếu nại theo hướng chấp nhận đơn khiếu nại ngày 02/6/2016. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo khoản 2 Điều 165 Luật Tố tụng hành chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người khởi kiện ông Lê Thanh H; Người bị kiện UBND huyện P và Chủ tịch UBND huyện P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 158, Điều 168 Luật Tố tụng hành chính xét xử vắng mặt người khởi kiện và người bị kiện.

[2] Về nội dung vụ kiện:

Ngày 02/6/2016 ông Lê Thanh H gửi đơn khiếu nại đến UBND huyện P yêu cầu được xem xét để lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích4.648,5m2, cây trồng và vật kiến trúc trên đất.Đây là đơn khiếu nại của công dân thực hiện theo quy định tại Điều 7 LuậtKhiếu nại.Trường hợp này, người giải quyết khiếu nại lần đầu, Chủ tịch UBND huyện P phải căn cứ các Điều 18, 27, 28, 29, 30 và Điều 31 của Luật Khiếu nại để thụ lý giải quyết đơn của ông H.

Nhưng  UBND  huyện  lại  ban  hành  Công  văn  số  19/UBND-NCPC  ngày 12/01/2017 để giải quyết khiếu nại của ông H là không đúng thẩm quyền, vì UBND huyện không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, mà thẩm quyền là của Chủ tịch UBND huyện P theo quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại.

Về hình thức văn bản đã vi phạm khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định”.

Do Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P ban hành trái thẩm quyền, vi phạm điều cấm của pháp luật nên cần phải hủy bỏ.

Lẽ ra sau khi hủy Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P, Tòa án phải kiến nghị Chủ tịch UBND huyện P ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với đơn khiếu nại của ông Lê Thanh H.

Nhưng tại phiên tòa, ông H có đơn đề nghị rút lại yêu cầu buộc Chủ tịch UBND huyện P giải quyết khiếu nại của ông H, chỉ yêu cầu hủy Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P vì trên thực tế diện tích đất ông H yêu cầu lập phương án bồi thường hiện nay ủy ban chưa ban hành quyết định thu hồi, đất ông H vẫn đang quản lý. Khi nào UBND huyện P thu hồi đất hoặc khi quyền lợi của ông H bị xâm hại thì ông H sẽ khiếu nại hoặc khởi kiện sau. Đây là ý chí tự nguyện của ông H và phù hợp theo quy định của pháp luật.

[3] Từ những nhận định trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nghị nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, hủy Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P về việc trả lời đơn của công dân và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu buộc Chủ tịch UBND huyện P giải quyết khiếu nại của ông H theo hướng chấp nhận yêu cầu được lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 4.648,5m2   và cây trồng, vật kiến trúc trên đất.

[4] Án phí hành chính sơ thẩm: UBND huyện P và Chủ tịch UBND huyện P mỗi đương sự phải nộp 300.000 đồng. Ông H không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 158, 165, 168, 193, 194 Luật Tố tụng hành chính;

- Áp dụng các Điều 6, 7, 18, 27, 28, 29, 30 và Điều 31 Luật Khiếu nại;

- Áp dụng Điều 32 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H, hủy Công văn số 19/UBND-NCPC ngày 12/01/2017 của UBND huyện P về việc trả lời đơn của công dân.

2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H về việc buộc Chủ tịch UBND huyện P phải giải quyết khiếu nại theo đơn ngày 02/6/2016 của ông H theo hướng chấp nhận yêu cầu được lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 4.648,5m2 và cây trồng, vật kiến trúc trên đất tọa lạc tại tổ 3, ấp Ô, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí: UBND huyện P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Chủ tịch UBND huyện P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).Hoàn trả cho ông Lê Thanh H tiền tạm  ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu 0004270 ngày 13/3/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.


148
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về