Bản án 31/2017/HNGĐ-PT ngày 16/02/2017 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 31/2017/HNGĐ-PT NGÀY 16/02/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 16 tháng 02 năm 2017 tại trụ sở, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 09/2016/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2016 về việc tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, do có kháng cáo của bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đối với Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2016/HNGĐ-ST ngày 23/03/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2017/QĐ-PT ngày 24 tháng 01 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Nguyễn Thị Kim Mai, sinh năm 1966.

Địa chỉ: 63/2 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt.

2. Bị đơn: ông Vũ Thế Tuấn, sinh năm 1962

Địa chỉ: 39 Tống Văn Trân, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc Chỉnh - Chủ tịch UBND thành phố Nam Định; vắng mặt (CV số 66/UBND-NC ngày 9/02/2017 - xin xử vắng mặt).

- Anh Đặng Quốc Hoàng, sinh năm 1990; có mặt.

- Chị Trương Thị Yến, sinh năm 1989; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: 63/2 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định

- Chị Vũ Hồng Nhung, sinh năm 1988; địa chỉ: 39 Tống Văn Trân, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; vắng mặt đã ủy quyền cho ông Vũ Thế Tuấn theo văn bản ủy quyền ngày 7/02/2017.

NHẬN THẤY

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Mai trình bày:

Bà và ông Vũ Thế Tuấn kết hôn năm 1997 tại Đại sứ quán Việt Nam tại Ucraina. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Tuấn có quan hệ ngoại tình nên tình cảm sứt mẻ. Đầu năm 2011, ông bà sống ly thân, đến nay không còn ai quan tâm đến ai nên bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn ông Tuấn.

Khi làm việc tại Tòa án bà mới biết việc ông Tuấn cho rằng giấy chứng nhận kết hôn của bà và ông Tuấn là do làm dịch vụ mà có. Tình cảm giữa bà và ông Tuấn thực sự không còn, ông Tuấn đã lừa bà, bà mới biết ông Tuấn còn có vợ trước khi đến với bà.Việc làm giấy chứng nhận kết hôn do ông Tuấn làm, bà không biết. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Bà và ông Tuấn có một con chung là cháu Vũ Mai Chi, sinh ngày 15/5/2004. Hiện cháu Chi đang ở cùng ông Tuấn. Quá trình làm ăn buôn bán, bà và ông Tuấn thống nhất dành cho cháu một khoản tiền là 5.000 USD làm của hồi môn. Nay ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi cháu nhưng vì cháu đã lớn nên cháu ở với ai do cháu quyết định.

Về tài sản: Bà và ông Tuấn không nợ ai. Quá trình chung sống bà và ông Tuấn đã mua được hai căn nhà, một ở số 42/2 Gộc Mít, phường Vị Xuyên, Nam Định và một ở số 5B ngõ Lẻ Chùa Cả. Nhà 42/2 Gốc Mít là tiền bà gửi về để ông Tuấn tìm mua, còn nhà 5B ngõ Lẻ Chủa Cả là do bà bán căn nhà riêng ở 21 Bến Thóc, phường Ngô Quyền, Nam Định lấy tiền để mua cho hai con riêng của bà ở. Tháng 3 năm 2008, bà bán căn nhà 5B  ngõ lẻ Chùa Cả được 150.000.000 đồng và tháng 4 năm 2008 thì mua nhà 63/2 Cù Chính Lan. Con trai riêng của bà là Đặng Quốc Hoàng ở nhà này từ đó đến nay, quá trình chung sống, là phụ nữ và tin tưởng ông Tuấn nên bà đã để ông Tuấn đứng tên cùng mua nhà, giao tiền và ký vào giấy tờ mua bán. Mọi giấy tờ mua bán bà đều để ông Tuấn cất giữ ở Việt Nam vì bà làm ăn ở Ucraina. Do bất đồng quan điểm, tháng 9 năm 2010 bà và ông Tuấn đã thỏa thuận với nhau ông Tuấn sử dụng nhà 42/2 Gốc Mít còn bà ở nhà 63/2 Cù Chính Lan. Năm 2010, bà và ông Tuấn đã thỏa  thuận chia cho mỗi người sử dụng một nhà nên bà không có đề nghị gì. Căn nhà 63/2 Cù Chính Lan là của mẹ con bà, trị giá là 300.000.000 đồng, bà không yêu cầu Tòa án định giá căn nhà đó. Bà đề nghị Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi cho mẹ con bà.

Bị đơn là ông Vũ Thế Tuấn trình bày:

Cuối năm 1997, tại Ucraina ông và bà Mai đã sống chung với nhau. Quá trình chung sống, ông và bà Mai lỡ có con với nhau nên có thuê dịch vụ làm giả giấy đăng ký kết hôn để hợp thức việc sinh đẻ cũng như làm giấy khai sinh cho con. Ông xuất cảnh lần đầu là tháng 11 năm 1997, bà Mai xuất cảnh lần đầu năm 2000, giấy đăng ký kết hôn giả là tháng 02 năm 1997. Như vậy, giấy đăng ký kết hôn của ông và bà Mai là giả và không hợp pháp. Ông sống chung với bà Hoàng Thị Hạnh từ cuối năm 1996 đến giữa năm 1997 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Hưng Đạo. Tháng 1 năm 1997 ông mới sang Ucraina. Ông đi được khoảng 3 năm thì bà Hạnh ở nhà đã về quê Tiền Hải, Thái Bình lấy chồng nhưng đến nay giữa ông và bà Hạnh chưa ly hôn nên về mặt pháp lý thì ông và bà Hạnh vẫn là vợ chồng. Ông đề nghị Tòa án giải quyết công nhận ông và bà Mai không phải là vợ chồng.

Về con chung: Giữa ông và bà Mai có một con chung là Vũ Mai Chi, sinh ngày 15/5/2004. Hiện cháu Chi đang ở cùng ông từ nhỏ nên ông nhận nuôi cháu và đề nghị bà Mai cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng một tháng và phải đưa trước một năm.

Về tài sản: Đầu năm 2005, ông và bà Mai về phép mang con chung về cho ông bà nội chăm sóc, thời gian này giữa ông và bà Mai thường xảy ra mâu thuẫn nên đã thống nhất phân chia tài sản trong thời kỳ làm ăn chung. Tài sản gồm một căn nhà 42/2 Gốc Mít và một căn nhà tại 5B ngõ lẻ Chùa Cả. Ông và bà Mai đã phân chia nhà xong sau đó lại sang nước ngoài làm ăn, từ đó ông bà làm ăn riêng nhưng vẫn sống chung với nhau để tiết kiệm chi phí. Năm 2008, ông bỏ tiền mua căn nhà của bà Hồi ở 63/2 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định. Nhà ông để cho con riêng của bà Mai ở nhờ để trông nhà. Vì nhà mang tên chồng bà Hồi là Nguyễn Hữu Côn (đã chết) nên khi làm sổ đỏ mang tên ông phải niêm yết ở phường và báo tổ dân phố ngoài 30 ngày mới làm hợp đồng được. Khi đó bà Mai vẫn ở Việt Nam, con bà Mai vẫn ở nhà đó, biết tài sản là của ông nên không có ý kiến gì. Nhà 63/2 Cù Chính Lan là tài sản riêng của ông, năm 2010 thì sang tên sổ đỏ, ông đã tặng cho con riêng của ông là Vũ Hồng Nhung. Hiện nhà 63/2 Cù Chính Lan mang tên con gái ông, trị giá là 300.000.000 đồng, ông không yêu cầu định giá căn nhà đó. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh Đặng Quốc Hoàng: Trước đây gia đình anh ở số nhà 21 Bến Thóc, phường Ngô Quyền, Nam Định. Sau khi bố mất, mẹ anh (bà Mai) bán căn nhà lấy tiền đi nước ngoài làm ăn. Năm 2005, mẹ anh đã mua căn nhà 5B ngõ lẻ Chùa Cả để anh ở. Tháng 3/3008, mẹ anh bán căn nhà 5B và mua nhà 63/2 Cù Chính Lan để anh em anh ở và làm nơi thờ cúng bố. Năm 2010, anh lập gia đình và sống tại nhà 63/2 Cù Chính Lan từ đó đến nay. Việc mua bán nhà hoàn toàn là do mẹ anh đứng lên lo liệu.

Chị Trương Thị Yến: Năm 2010, chị kết hôn với anh Hoàng và vẫn ở tại nhà 63/2 Cù Chính Lan, không thuê mượn của ai. Từ khi ở trọ cho đến khi lấy anh Hoàng chị chưa hề thấy ông Tuấn hay chị Nhung đến nhà lần nào.

Chị Vũ Hồng Nhung: Chị là con ruột của ông Vũ Thế Tuấn. Căn nhà 63/2 Cù Chính Lan là chị đứng tên sổ đỏ, địa chỉ sổ đỏ là 20/73 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương. Căn nhà đó là của bà Hồi và ông Côn. Bà Hồi bán căn nhà này cho bố chị một cách hợp pháp và bố chị đã tặng cho chị dưới dạng của hồi môn. Chị đã được sang tên sổ đỏ hợp pháp, nhà có giá trị 300.000.000 đồng. Chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Mai, anh Hoàng trả căn lại nhà cho chị. Chị sẽ hỗ trợ cho anh Hoàng 2.000.000 đồng tiền vận chuyển và 15.000.000 đồng tiền chi phí thuê nhà trong một năm.

Bà Hoàng Thị Hạnh: Bà kết hôn với ông Vũ Thế Tuấn năm 1997 tại UBND phường Trần Hưng Đạo, Nam Định. Bà và ông Tuấn chưa ly hôn nhưng giữa bà và ông Tuấn không có con chung, tài sản chung, bà đề nghị không đưa bà vào tham gia tố tụng và bà không có ý kiến gì.

Tại Bản án HNGĐ sơ thẩm số 03/2014/HNGĐ-ST ngày 17/01/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã áp dụng khoản 1 Điều 11, Điều 14, 56, 92, 95 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 122, 127, 128 Bộ luật Dân sự; Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Vũ Thế Tuấn và bà Nguyễn Thị Kim Mai là vợ chồng. Chấm dứt quan hệ như vợ chống giữa ông Tuấn và bà Mai.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của ông Vũ Thế Tuấn và bà Nguyễn Thị Kim Mai. Giao cháu Vũ Mai Chi, sinh ngày 15/5/2004 cho ông Vũ Thế Tuấn chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Mai có trách nhiệm đóng góp nuôi con chung cùng ông Tuấn 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Chi đủ tuổi trưởng thành. Ông Tuấn tiếp tục quản lý số tiền 5.000 USD của cháu Vũ Mai Chi và có trách nhiệm trả lại cho cháu khi cháu đến tuổi trưởng thành.

3. Về tài sản: Tuyên bố nhà số 20/73 Cù Chính Lan (nay là 63/2 Cù Chính Lan) phường Trần Tế Xương, Nam Định thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim Mai.

Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vũ Thế Tuấn số BE144387 ngày 30/3/2011 có số thửa 138 tờ bản đồ 15 tại 20/73 Cù Chính Lan,phường Trần Tế Xương, Nam Định.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Mai, trừ cho ông Tuấn 2.000USD còn nợ để trả tiền công ông Tuấn giúp bà mua nhà.

Không chấp nhân yêu cầu đòi lại nhà số 20/73 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, Nam Định của chị Vũ Hồng Nhung.

Bà Mai có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là ông Vũ Thế Tuấn kháng cáo không đồng ý cấp sơ thẩm tuyên hủy giấy CNQSD đất mang tên ông; đề nghị làm rõ việc ông đã niêm yết công khai hợp đồng mua bán nhà giữa ông và bà Bùi Thị Hồi tại UBND phường Trần Tế Xương; yêu cầu bà Mai đóng góp tiền nuôi con phải đưa trước 1 năm.

Tại Bản án HNGĐ phúc thẩm số 209/2014/HNGĐ-PT ngày 25/12/2014, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội đã hủy một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2014/HNGĐ-ST ngày 17/01/2014 của TAND tỉnh Nam Định về phần tài sản. Chuyển hồ sơ cho TAND tỉnh Nam Định giải quyết lại sơ thẩm.

Quá trình tố tụng sơ thẩm lần 2, các đương sự trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim Mai khi thì đề nghị Tòa án giải quyết xác định ngôi nhà 63/2 Cù Chính Lan là sở hữu chung, đề nghị Tòa án gộp cả hai nhà và toàn bộ tài sản của bà với ông Tuấn vào để chia đôi; khi lại cho rằng nhà đang tranh chấp là tài sản riêng. Về số tiền 2000 USD ông Tuấn còn nợ bà thì nay bà không đồng ý cho ông Tuấn nữa mà bà yêu cầu ông Tuấn phải trả cho bà để bà lấy tiền đóng góp nuôi con chung.

Ông Vũ Thế Tuấn đề nghị nếu bà Mai trả lại căn nhà 63/2 Cù Chính Lan mà ông đã cho mượn ở nhờ thì ông sẽ hỗ trợ 50.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2016/HNGĐ-ST ngày 23/3/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã áp dụng Điều 122, 127,128, 137, 305, 389, 468, 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự; Điều 32a Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Tuyên bố khu nhà đất có số thửa 138 tờ bản đồ 15, diện tích 93,9m2, tại địa chỉ số 20/73 Cù Chính Lan (nay là 63/2 Cù Chính Lan) phường Trần Tế Xương, Nam Định thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim Mai.

Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vũ Thế Tuấn số BE144387 do UBND thành phố Nam Định cấp ngày 30/3/2011, có số thửa 138 tờ bản đồ 15, tại địa chỉ số 20/73 Cù Chính Lan (nay là 63/2 Cù Chính Lan) phường Trần Tế Xương, Nam Định. (Có nội dung thay đổi: Tặng cho chị Vũ Hồng Nhung theo xác nhận của Văn phòng đăng ký thông tin nhà đất thành phố Nam Định đề ngày 29/6/2011).

Tuyên hủy hợp đồng tặng cho giữa ông Vũ Thế Tuấn và chị Vũ Hồng Nhung lập ngày 15/6/2011 đối với khu nhà đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE144387 do UBND thành phố Nam Định cấp ngày 30/3/2011.

Không chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà số 20/73 Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, Nam Định của chị Vũ Hồng Nhung đối với bà Mai, anh Hoàng, chị Yến.

Bà Nguyễn Thị Kim Mai có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quyết định của bản án này.

2. Buộc ông Vũ Thế Tuấn thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị Kim Mai 2.000 USD (có trị giá 44.740.000 đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/3/2016, ông Vũ Thế Tuấn, chị Vũ Hồng Nhung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng tặng cho giữa ông Tuấn và con gái Vũ Hồng Nhung, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của chị Nhung; khoản tiền 2000 USD buộc ông đã trả bà Mai là không đúng.

Ngày 4/4/2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định có Quyết định số 01/QĐKNPT-DS kháng nghị Bản án số 06/2016/HNGĐ-ST ngày 23/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định theo trình tự phúc thẩm cho rằng có căn cứ để xác định số tiền mua nhà 63/2 Cù Chính Lan là của ông Tuấn; chưa có cơ sở xác định nhà 63/2 Cù Chính Lan thuộc quyền sở hữu của bà Mai; sau khi vụ án bị hủy, về cơ bản các chứng cứ không có gì thay đổi xong Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định nhà 63/2 Cù Chính Lan thuộc quyền sở hữu của bà Mai là chưa phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định; các đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội khi kết luận về vụ kiện đã cho rằng: tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự có nhiều mâu thuẫn. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu do các bên cung cấp đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự; Kiểm sát viên; sau khi thảo luận và nghị án;

XÉT THẤY

1. Về tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án hôn nhân gia đình, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 7 Điều 25; Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nay là khoản 9 Điều 26; Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt hoặc ủy quyền, xin xử vắng mặt hợp pháp; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Kim Mai và ông Vũ Thế Tuấn sống chung với nhau từ năm 1997, có con chung và tài sản chung. Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án các cấp đã có các quyết định về quan hệ hôn nhân xác định ông Tuấn, bà Mai không phải là vợ chồng; về con chung giao cho ông Tuấn nuôi dưỡng, bà Mai phải góp phí tổn nuôi con cùng ông Tuấn. Các quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản: Quá trình chung sống và làm ăn chung, năm 2005, ông Tuấn, bà Mai đã có văn bản thỏa thuận chia tài sản là hai khối nhà đất cụ thể: Nhà ở 42/2 Gốc Mít II là sở hữu riêng của ông Vũ Thế Tuấn; nhà ở 5B Ngõ lẻ Chùa Cả là sở hữu riêng của bà Nguyễn Thị Kim Mai.

Theo bà Mai, nhà 63/2 Cù Chính Lan được mua tháng 4 năm 2008 do bà và ông Tuấn cùng giao dịch với mẹ con bà Hồi (chủ nhà). Tiền mua nhà do bà bán nhà 5B Ngõ lẻ Chùa Cả. Vì là phụ nữ, tin tưởng ông Tuấn nên bà để ông Tuấn trả tiền lần đầu và cầm giấy tờ mua bán. Năm 2010, bà và ông Tuấn đã thỏa thuận chia nhà. Ông tuấn vẫn ở nhà cũ 42/2 Gốc Mít còn bà Mai được sơ hữu nhà 63/2 Cù Chính Lan (văn bản thỏa thuận này do chính ông Tuấn viết ngày 29/7/2010).

Ông Tuấn lại cho rằng ông bỏ tiền riêng ra mua nên nhà này là của ông. Ngày 17/12/2010, tại Phòng công chứng số 1 tỉnh nam Định, ông Vũ Thế Tuấn và bà Bùi Thị Hồi đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất 63/2 Cù Chính Lan. Ngày 30/3/2011, ông Vũ Thế Tuấn được Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 144387 số vào sổ cấp GCN: 13-63601227. Ngày 15/6/2011, ông Tuấn lập hợp đồng tặng cho con gái là Vũ Hồng Nhung nhà đất này.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ nhà 63/2 Cù Chính Lan do con bà Mai sử dụng từ 2008; giấy chuyển nhượng nhà với bà Hồi ngày 21/4/2008 do cả ông Tuấn, bà Mai tham gia để xác định hợp đồng chuyển nhượng do ông Tuấn, bà Hồi lập ngày 17/12/2010 là vô hiệu; chưa có cơ sở tại thời điểm ông Tuấn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất không có tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định nhà đất tại 63/2 Cù Chính Lan là của riêng bà Mai và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 144387 số vào sổ cấp GCN: 13-63601227 mang tên ông Vũ Thế Tuấn. Quyết định này bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội hủy để giải quyết lại vì hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ để xác định 63/2 Cù Chính Lan là của riêng bà Mai hay của ông Vũ Thế Tuấn.

Quá trình giải quyết lại sơ thẩm lần này, tại đơn đề nghị ngày 12/02/2015, bà Mai viết “Tôi và anh Vũ Thế Tuấn đã sống với nhau 15 năm qua và có tài sản chung là ngôi nhà 42/2 Gốc Mít và 63/2 Cù Chính Lan thành phố Nam Định và một con chung là Mai Chi” (BL238); bản tự khai ngày 6/01/2015, bà Mai khai “Năm 2008, tôi và anh Tuấn đã bán ngôi nhà 5B Ngõ Lẻ của tôi và mua cái nhà 63/2 Cù Chính Lan để cho cháu Hoàng ở ” và đề nghị “Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định gộp cả hai ngôi nhà và toàn bộ tài sản vào để chia đôi” (BL240, 241); tại bút lục số 263, bà Mai đề nghị giải quyết nhà 63/2 Cù Chính Lan là sở hữu của bà Mai; tại buổi hòa giải giữa ông Tuấn, bà Mai ngày 10/3/2015, bà Mai trình bày: “Nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết tài sản nhà 42/2 Gốc Mít, 63/2 Cù Chính Lan là tài sản chung của tôi và anh Tuấn…”. Cũng tại phiên hòa giải này, ông Tuấn trình bày do hoàn cảnh bà Mai khó khăn nên năm 2010 tôi có thỏa thuận chia thêm cho bà Mai nhà 63/2 Cù Chính Lan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Mai vẫn xác định nhà 63/2 Cù Chính Lan là tài sản chung của bà với ông Tuấn và có giá trị chỉ bằng 1/3 nhà 42/2 Gốc Mít nhưng vì mẹ con bà ốm đau nên nhận nhà này và đành chịu thiệt.

Về nguồn tiền để mua nhà 63/2 Cù Chính Lan ông Tuấn, bà Mai khai không thông nhất. Bà Mai khai bán nhà 5B Ngõ Lẻ Chùa Cả được 145.000.000 và dùng mua nhà này; ông Tuấn lúc thì khai tiền của ông tích cóp được mua nhà, lúc lại khai lấy tiền của em gái là Vũ Hồng Liên đang lao động ở Đài Loan để mua. Tại phiên tòa này, ông Tuấn lại cho rằng ông không vay tiền của em gái, Tòa án ghi biên bản không đúng; giá trị hai nhà 42/2 Gốc Mít, 63/2 Cù Chính Lan là tương đương nhau chứ không phải như lời bà Mai khai. Ông Tuấn khẳng định nhà đang tranh chấp là tài sản riêng của ông đề nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Tuấn cũng cho rằng bà Mai bán nhà 5b Ngõ Lẻ Chùa Cả đã dùng một phần tiền để mua ki ốt kinh doanh còn một phần tiền cho con trai cả đi nước ngoài nên không thể có tiền để mua nhà 63/2 Cù Chính Lan.

Tổng hợp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, có căn cứ để xác định: Nhà đất đang tranh chấp là nhà 63/2 Cù Chính Lan có nguồn gốc của mẹ con bà Bùi Thị Hồi và Nguyễn Thị Hồng Nhung (chồng bà Hồi đã chết). Ngày 21/4/2008, ông Tuấn, bà Mai đã ký vào bên mua giấy chuyển nhượng nhà này với mẹ con bà Hồi (Giấy này do chị Nhung con gái bà Hồi viết tay - BL28). Ngày 29/7/2010, ông Tuấn đã viết giấy thỏa thuận giao cho bà Mai căn nhà này. Tuy nhiên văn bản này không được ông Tuấn, bà Mai ký xác nhận cũng như không được chứng thực theo quy định của pháp luật. Ngày 17/12/2010, tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Nam Định, ông Vũ Thế Tuấn và bà Bùi Thị Hồi đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất 63/2 Cù Chính Lan. Ngày 30/3/2011, ông Vũ Thế Tuấn được Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 144387 số vào sổ cấp GCN: 13-63601227. Việc ông Tuấn tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng nhà với bà Hồi trong khi mua bán viết tay với mẹ con bà Hồi có cả bà Mai tham gia ký bên mua (là vợ ông Tuấn) trong trường hợp này là có sự gian dối. Mặc dù văn bản này được công chứng, chứng thực nhưng bị vô hiệu như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng.

Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự, chứng cứ do các bên cung cấp có rất nhiều mâu thuẫn trong việc xác định ai là chủ sở hữu nhà đang tranh chấp; sở hữu riêng hay sở hữu chung? nguồn tiền để mua tài sản này theo các đương sự khai cũng mâu thuẫn; bản thân nguyên đơn là bà Mai khi thì bà xác định nhà này là tài sản chung của bà và ông Tuấn, khi thì bà lại đề nghị Tòa án xác định là tài sản riêng của bà. Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra, xác minh, làm rõ những mâu thuẫn nêu trên; chưa xác minh làm rõ nguồn tiền mua nhà là của ai? Ai là người trả tiền cho mẹ con bà Hồi? Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà 63/2 Cù Chính Lan là tài sản riêng của bà Mai trong trường hợp này là không có căn cứ, mâu thuẫn với chính lời khai của bà Mai (là tài sản chung), lời khai của ông Tuấn. Khoản tiền 2000 USD Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Tuấn trả bà Mai (khoản tiền này không có trong yêu cầu khởi kiện) khi không lấy lời khai, hòa giải giữa các bên đương sự là chưa đảm bảo quy định của pháp luật.

Xét thấy việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định và một phần kháng cáo của ông Vũ Thế Tuấn, chị Vũ Hồng Nhung; hủy bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2016/HNGĐ-ST ngày 23/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Ông Vũ Thế Tuấn, chị Vũ Hồng Nhung không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người được nhận lại 200.000 đồng dự phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 08568, 08569 ngày 31/3/2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.


188
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!