Bản án 31/2019/DS-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 31/2019/DS-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2019/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 199/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty A.

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9, Đoàn Văn B, phường N, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Vi Văn CH, sinh năm 1993.

Địa chỉ: 48 Nguyễn Huy T, phường D, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Trần Minh V, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ 26, ấp PB, xã Z, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Anh CH đề nghị xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Văn CH đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/02/2016, anh Trần Minh V có ký hợp đồng tín dụng số 20160216- 701044-1152 với Công ty A (gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 25.920.478 đồng với lãi suất thỏa thuận 4.59%/tháng để tiêu dùng cá nhân, anh V đã nhận đủ tiền. Theo thỏa thuận thì anh V phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 43.290.000 đồng (bao gồm gốc và lãi) trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng, bắt đầu từ ngày 18/3/2016, trong đó 23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.805.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.775.000 đồng.

Anh V đã thanh toán cho Ngân hàng 08 lần với tổng số tiền là 14.440.000 đồng. Kể từ ngày 28/02/2017 đến nay, anh V không thanh toán bất cứ khoản tiền nào mặc dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do anh V trễ hạn thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh V trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 28.850.000 đồng, trong đó nợ gốc là 20.130.853 đồng, nợ lãi trong hạn là 8.719.147 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử trên dư nợ gốc với lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi anh V trả hết nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng không yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử.

- Bị đơn anh Trần Minh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn như cung cấp tài liệu, chứng cứ và tham gia phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, cụ thể là không đến Tòa án tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy ngày 16/02/2016, anh Trần Minh V có ký hợp đồng tín dụng vay số tiền 25.920.478 đồng với lãi suất 4.59%/tháng của Ngân hàng để tiêu dùng cá nhân. Thực hiện hợp đồng, anh V đã nhận đủ số tiền và đã thanh toán cho Ngân hàng được 08 lần với tổng số tiền là 14.440.000 đồng. Kể từ ngày 28/02/2017 đến nay anh V không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào nữa dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Hiện phía ngân hàng yêu cầu anh V phải thanh toán tổng số tiền là 28.850.000 đồng, trong đó nợ gốc là 20.130.853 đồng, nợ lãi trong hạn là 8.719.147 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử trên dư nợ gốc với lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi anh V trả hết nợ cho Ngân hàng. Việc anh V không thanh toán theo hợp đồng là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phía ngân hàng yêu cầu anh V thanh toán số nợ nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự 2015, Điều 471, 474, 478 Bộ luật dân sự 2005 buộc anh V phải thanh toán số tiền 28.850.000 đồng cho Ngân hàng và lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử trên dư nợ gốc với lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi anh V trả hết nợ cho Ngân hàng.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/20146/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh V phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Minh V đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, do giao dịch này đang được thực hiện nhưng có nội dung không phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về lãi suất nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết về nội dung tranh chấp của vụ án.

[3] Về nội dung: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 20160216-701044-1152 ngày 16/02/2016 giữa Công ty A và anh Trần Minh V, việc anh V đã thanh toán cho Ngân hàng được một khoản tiền nên có cơ sở xác định Ngân hàng có cho anh V vay số tiền 25.920.478 đồng là có thật. Về mục đích vay, lãi suất và phương thức thanh toán như đại diện nguyên đơn trình bày là đúng như hợp đồng tín dụng. Xét nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 122, Điều 123, Điều 124 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo thỏa thuận tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh V chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng được 08 lần với tổng số tiền là 14.440.000 đồng. Kể từ ngày 28/02/2017, anh V không thực hiện việc trả tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần. Việc anh V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận, gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh V trả số tiền là 28.850.000 đồng, trong đó nợ gốc là 20.130.853 đồng, nợ lãi trong hạn là 8.719.147 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử trên dư nợ gốc với lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi anh V trả hết nợ cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận. Ngân hàng chỉ yêu cầu anh V trả nợ vì anh V vay tiền để tiêu xài cá nhân nên buộc anh V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nêu trên. Ngân hàng không yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử nên không xem xét.

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu, trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng. Anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.442.500 đồng (28.850.000 đồng x 5%).

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 122, Điều 123, Điều 124, Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty A về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với anh Trần Minh V. Buộc anh V có trách nhiệm trả cho Công ty A số tiền 28.850.000 đồng, trong đó nợ gốc là 20.130.853 đồng, nợ lãi trong hạn là 8.719.147 đồng.

Kể từ ngày 29/6/2019, anh V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chậm trả của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty A không phải chịu, trả lại cho ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 720.000 đồng theo biên lai thu số 0001064 ngày 02/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Anh V phải chịu 1.442.500 đồng.

Về quyền kháng cáo: Công ty A, anh Trần Minh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2019/DS-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:31/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về