Bản án 32/2015/DSPT ngày 02/04/2015 về tranh chấp kiện đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 32/2015/DSPT NGÀY 02/04/2015 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN 

Ngày 02 tháng 4 năm 2015 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2014/DS-PT ngày 30 tháng 9 năm 2014 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2014/DS-ST ngày 20/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số  /2015/QĐ-PT ngày  tháng năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đào Kim Thu, sinh năm 1958; vắng mặt.

Trú tại: số 8 Lý Thường Kiệt, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân Bính, sinh năm 1976; địa chỉ: số 19 Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; có mặt.

* Bị đơn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phương - Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam; vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền:

1. Ông Nguyễn Quang Thái, sinh năm 1941 - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội khoa học kinh tế Việt Nam; có mặt.

2. Ông Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1950 - Phó tổng thư ký Hội khoa học kinh tế Việt Nam; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo của người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Kim Thu là anh Nguyễn Xuân Bính trình bày:

Bà Thu khởi kiện yêu cầu Hội khoa học kinh tế Việt Nam hoàn trả lại số tiền 2 tỷ đồng mà bà Thu đã nộp vào tài khoản của Hội ngày 18/01/2010.

Lý do bà Thu yêu cầu Hội khoa học hoàn trả lại số tiền 2 tỷ đồng như sau:

Thông qua mối quan hệ giữa bố bà Thu là Giáo sư Đào Nguyên Cát (hiện đang giữ chức Phó chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam - Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam) nên bà Thu quen ông Nguyễn Tân Cương khi đó là Chánh Văn phòng Hội khoa học kinh tế Việt Nam - Phó Ban quản lý dự án khu liên hợp Khoa học - Đào tạo của Hội khoa học kinh tế Việt Nam tại huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trong thời gian Hội khoa học kinh tế Việt Nam thực hiện dự án này, bà Thu được ông Cương cho biết Hội khoa học kinh tế Việt Nam có dành quyền mua quyền sử dụng đất trong dự án để xây dựng nhà và đề nghị bà Thu góp vốn để được mua quyền sử dụng đất.

Do tin tưởng ông Cương nên bà Thu đã góp tiền mua quyền sử dụng đất và nhờ ông Cương trực tiếp nộp tiền cho Hội khoa học kinh tế Việt Nam. Tổng số tiền bà Thu đã nộp cho Hội khoa học kinh tế Việt Nam là 5.045.000.000 đồng thông qua ông Cương. Trong đó, bà Thu đã nộp trực tiếp vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam vào ngày 18/01/2010 số tiền là 2 tỷ đồng từ tài khoản của bà Thu tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (tài khoản nhận tiền là tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam). Số tiền còn lại ông Cương nộp thay bà Thu vào Hội khoa học kinh tế Việt Nam nhưng chứng từ nộp tiền ông Cương giữ chưa giao lại cho bà Thu.

Về tài liệu chứng cứ: Bà Thu đã nộp cho Tòa án Phiếu ủy nhiệm chi của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và bảng kê các giao dịch từ số tài khoản của bà Đào Kim Thu chuyển tiền qua ngân hàng vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam để chứng minh việc bà Thu nộp tiền vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Về tư cách bà Thu nộp tiền: bà Thu được ông Cương nói nếu bà Thu nộp tiền sẽ được mua đất tại dự án, thời điểm đó ông Cương quản lý về mặt tài chính của dự án là Chánh văn phòng - Phó ban quản lý dự án của Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Giữa năm 2010 ông Cương qua đời do bệnh nặng, số chứng từ nộp tiền của bà Thu hiện gia đình ông Cương giữ, chưa trả lại cho bà Thu, bà Thu cũng không nhận được quyền sử dụng đất tại khu dự án mà bà Thu nộp tiền để mua.

Căn cứ vào chứng từ chuyển tiền vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam ngày 18/01/2010. Nay bà Thu yêu cầu Hội khoa học kinh tế Việt Nam hoàn trả lại số tiền 2 tỷ đồng mà bà Thu đã nộp vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam ngày 18/01/2010. Còn số tiền bà giao trực tiếp cho ông Cương để nộp cho Hội khoa học kinh tế Việt Nam thì bà Thu sẽ yêu cầu khởi kiện bằng vụ án khác sau khi gia đình ông Cương giao cho bà Thu các chứng từ nộp tiền.

* Hội khoa học kinh tế Việt Nam do ông Nguyễn Quang Thái - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội khoa học kinh tế Việt Nam là người đại diện theo ủy quyền cùng với ông Vũ Tuấn Anh thống nhất trình bày:

Việc bà Thu khởi kiện yêu cầu Hội khoa học kinh tế Việt Nam hoàn trả bà Thu số tiền 2 tỷ đồng là không có căn cứ, vì:

Từ năm 2005, Hội khoa học kinh tế Việt Nam tiến hành dự án xây dựng Khu liên hợp Khoa học - Đào tạo tại phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì Hội có huy động một số đơn vị trường Đại học, viện và trung tâm nghiên cứu và 50 giáo sư, nhà khoa học là những hội viên của Hội lựa chọn và quyết định, sau đó các bên tham gia phải ký bản cam kết tham gia dự án. Dự án thu tiền góp vốn theo từng giai đoạn xây dựng kéo dài từ năm 2005 đến năm 2010. Mỗi lần thu tiền Hội khoa học kinh tế Việt Nam đều gửi Thông báo nộp tiền tới những đơn vị và cá nhân góp vốn, trong đó nêu rõ số tiền cần nộp, thời gian, địa điểm, phương thức và những người chịu trách nhiệm nhận tiền. Sau khi thu tiền (tiền mặt hoặc tài khoản) thì Ban quản lý dự án có trách nhiệm cấp Phiếu thu trong đó ghi nhận số tiền mà Hội đã nhận, ngày thu tiền, có đủ con dấu của Hội và 03 chữ ký của Trưởng ban quản lý dự án (giáo sư Nguyễn Quang Thái), Thủ quỹ dự án (ông Nguyễn Tân Cương hoặc bà Nguyễn Thị Việt) và người nộp tiền. Ngoài ra, Ban quản lý dự án còn lập sổ theo dõi việc góp vốn của từng thành viên. Như vậy, để là một thành viên tham gia góp vốn vào dự án thì giữa thành viên tham gia góp vốn với Ban quản lý dự án cần phải có các giấy tờ chứng minh cho tư cách thành viên gồm: Bản cam kết góp vốn (theo mẫu của Hội), Phiếu thu tiền (xác nhận số tiền đóng góp từng lần của mỗi thành viên theo tiến độ của dự án), có tên trong sổ theo dõi danh sách thành viên góp vốn.

Tuy nhiên, đối với bà Thu thì bà Thu không phải là thành viên của Hội khoa học kinh tế Việt Nam. Trong suốt quá trình tiến hành dự án bà Thu chưa từng gửi đơn, thư để tham gia dự án. Do vậy, Hội không có bất kỳ cam kết hay giao dịch nào với bà Thu trong dự án xây dựng Khu liên hợp Khoa học - Đào tạo cũng như trong mọi quan hệ dân sự, kinh doanh, đầu tư từ trước cho đến nay. Các tài liệu về dự án hiện đang lưu giữ không có bất cứ thông tin nào có tên bà Thu. Do không có cam kết nào giữa Hội và bà Thu nên không thể có lý do nào để có giao dịch chuyển tiền. Nếu bà Thu cho rằng đã góp tiền cho dự án của Hội thì bà Thu phải xuất trình chứng cứ chứng minh bà Thu là thành viên tham gia góp vốn hợp lệ cho Dự án của Hội gồm: Bản cam kết tham gia dự án; Thông báo của Ban quản lý dự án về tiến độ thực hiện dự án và việc nộp tiền theo từng đợt; Giấy biên nhận về việc nộp tiền (Phiếu thu) của từng đợt nộp tiền. Trong sổ sách thu chi góp vốn của dự án do chính ông Cương ghi chép không hề có tên bà Thu cũng như không có khoản tiền góp vốn nào trị giá 2 tỷ đồng vào thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 4/2010. Khoản tiền 2 tỷ đồng không phải là khoản tiền góp vốn mới mà là tiền quỹ của Hội đã có mà ông Cương (khi đó là thủ quỹ) có trách nhiệm chuyển khoản vào tài khoản của Hội tại Từ Sơn, Bắc Ninh để thanh toán trả tiền xây dựng hạ tầng công trình.

Hội khoa học kinh tế Việt Nam khẳng định không nhận khoản tiền nào của bà Thu. Khoản tiền 2 tỷ đồng đã gửi ngày 18/01/2010 từ tài khoản 11521523187017 tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) về tài khoản số 43310000067204 của Hội tại Ngân hàng BIDV Từ Sơn, Bắc Ninh là do ông Cương gửi với nội dung “Nguyễn Tân Cương đóng góp cổ phần dự án”. Ông Cương khi đó là Chánh Văn phòng Hội - Phó Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm giữ quỹ của dự án. Để thuận lợi trong việc giao dịch với các đơn vị đối tác xây dựng dự án, Hội đã mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), chi nhánh Từ Sơn. Tài khoản này do Phó Chủ tịch Hội kiêm Trưởng ban quản lý dự án làm chủ tài khoản, ông Cương làm thủ quỹ. Khi dự án có nhu cầu thanh toán chuyển khoản cho các đơn vị đối tác, thủ quỹ có trách nhiệm chuyển tiền dự án vào tài khoản của Hội tại Từ Sơn để Trưởng ban quản lý dự án ký Ủy nhiệm chi thanh toán cho các đối tác tham gia xây dựng dự án. Trong quá trình thực hiện dự án ông Cương với tư cách là thủ quỹ đã nhiều lần chuyển tiền hay nộp tiền mặt vào tài khoản của Hội tại BIDV Từ Sơn như vậy.

Do đó, việc ông Cương mượn tài khoản của một cá nhân khác mà cụ thể trong vụ kiện này là bà Đào Kim Thu để chuyển tiền quỹ của Dự án mà ông Cương giữ là quan hệ thỏa thuận cá nhân giữa hai người (bà Thu và ông Cương). Bà Thu đã cung cấp thông tin khi chuyển tiền là “Nguyễn Tân Cương đóng góp cổ phần dự án” khi ủy nhiệm chi. Do vậy, không có căn cứ để cho rằng bà Thu đã gửi tiền của cá nhân bà Thu cho Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Sau khi ông Cương mất, bà Thu gửi thư tới Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam nói rằng bà Thu đưa cho ông Cương trên 5 tỷ đồng để mua lại quyền góp vốn của hai người khác, hai người này là người địa phương tại Từ Sơn, việc này không thể xảy ra trên thực tế vì tất cả những người trong danh sách góp vốn đều là những nhà khoa học thuộc một số viện nghiên cứu, trường đại học, văn phòng Hội, các trung tâm khoa học và đơn vị thuộc Hội, không có ai là người địa phương (Từ Sơn) và cũng không có ai chuyển nhượng quyền góp vốn. Hội có quy định nghiêm cấm mọi sự chuyển nhượng, vấn đề này cũng đã ghi rõ trong hợp đồng cam kết góp vốn. Đến nay không có ai vi phạm quy định này. Mặt khác, bà Thu cũng không nêu được tên hay thông tin nào của người chuyển nhượng lại cũng như không biết vị trí quyền sử dụng đất mà mình đã bỏ tiền ra mua.

Theo quan điểm của Hội khoa học kinh tế Việt Nam thì những giao dịch giữa bà Thu với ông Cương nếu có là giao dịch giữa cá nhân họ, không liên quan đến Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Hội khoa học kinh tế Việt Nam khẳng định không có bất cứ quan hệ giao dịch nào về dân sự, kinh tế và tài sản với bà Thu do vậy Hội khoa học kinh tế Việt Nam không có bất cứ lý do nào để nhận tiền từ bà Thu. Việc bà Thu có quan hệ với ông Cương và cho ông Cương mượn tài khoản để chuyển tiền là quan hệ giữa bà Thu và ông Cương không liên quan đến Hội khoa học kinh tế Việt Nam nên Hội khoa học kinh tế Việt Nam không chấp nhận việc bà Thu yêu cầu Hội khoa học kinh tế Việt Nam hoàn trả số tiền 2 tỷ đồng như yêu cầu khởi kiện của bà Thu.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2014/DS-ST ngày 20/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng Điều 163, 164, 169, 256 Bộ luật dân sự; Điều 25, 131, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng của bà Đào Kim Thu đối với Hội khoa học Kinh tế Việt Nam.

Buộc Hội khoa học Kinh tế Việt Nam phải hoàn trả bà Đào Kim Thu số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng mà bà Đào Kim Thu đã chuyển vào tài khoản của Hội khoa học Kinh tế Việt Nam ngày 10/01/2010.

Về án phí: Hoàn trả bà Đào Kim Thu số tiền 36.000.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Hội khoa học kinh tế Việt Nam phải chịu 72.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01 tháng 7 năm 2014, đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Hội khoa học kinh tế Việt Nam xác nhận Hội có nhận số tiền 2 tỷ đồng từ tài khoản của bà Đào Kim Thu chuyển vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam và đã sử dụng số tiền trên cho dự án, nhưng Hội khoa học kinh tế Việt Nam cho rằng số tiền này là của Hội khoa học kinh tế Việt Nam do ông Nguyễn Tân Cương là thủ quỹ của Ban quản lý dự án thu giữ của khách hàng, việc ông Cương mượn tài khoản của bà Thu để chuyển tiền vào tài khoản của Hội là việc của ông Cương và bà Thu, đây cũng là chuyện bình thường. Việc bà Thu chuyển số tiền 2 tỷ đồng từ tài khoản của bà Thu vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam là thỏa thuận dân sự giữa bà Thu với ông Cương, Hội khoa học kinh tế Việt Nam không có liên quan đến quan hệ hay thỏa thuận giao dịch giữa bà Thu với ông Cương; giữa Hội khoa học kinh tế Việt Nam với bà Đào Kim Thu không hề có bất cứ một quan hệ hay hợp đồng giao dịch nào nên Hội khoa học kinh tế Việt Nam không có trách nhiệm hoàn trả số tiền 2 tỷ đồng cho bà Đào Kim Thu như bản án sơ thẩm đã quyết định.

Với lý do nêu trên, đại diện Hội khoa học kinh tế Việt Nam đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Hội khoa học kinh tế Việt Nam trình bày quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau:

* Về tố tụng:

- Đơn khởi kiện của nguyên đơn không đúng với mẫu đơn khởi kiện cả về nội dung và hình thức;

- Giấy ủy quyền của bà Thu cho ông Bính không đúng với quy định của pháp luật, ông Bính là ủy quyền nộp đơn khởi kiện và nộp dự phí khởi kiện là không đúng;

- Tòa án cấp sơ thẩm ra thông báo thụ lý vụ án không đúng với Nghị quyết số 05 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng tố tụng vì nguyên đơn đã được triệu tấp hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;

- Việc thu thập chứng cứ không đầy đủ như không thu thập giấy chứng tử của ông Nguyễn Tân Cương hoặc xác minh tại nơi cư trú của ông Cương về việc ông Cương đã chết;

- Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng và bỏ sót người tham gia tố tụng, trong trường hợp ông Cương đã mất thì phải đưa những người thừa kế của ông Cương vào tham gia tố tụng trong vụ án.

* Về nội dung: Giữa bà Đào Kim Thu và Hội khoa học kinh tế Việt Nam không có bất kỳ quan hệ kinh tế cũng như giao dịch dân sự nào, bà Thu không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc tham gia dự án với Hội khoa học kinh tế Việt Nam. Bà Thu đã trực tiếp đến nộp tiền cho bố và anh của bà tại Hội khoa học kinh tế Việt Nam nên bà Thu hiểu rõ quy định của Hội khoa học kinh tế việt Nam.

Số tiền 2 tỷ đồng là số tiền của Hội khoa học kinh tế Việt Nam ông Cương phải chuyển trả cho Hội thông qua tài khoản của bà Thu. Với các căn cứ nêu trên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến.

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình tố tụng tại phiên tòa phúc phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Ngày 04/9/2012, bà Đào Kim Thu làm giấy ủy quyền cho ông Nguyễn Xuân Bính trước khi bà Thu làm đơn khởi kiện ngày 10/2/2013, như vậy là không hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Thu phải khởi kiện ông Nguyễn Tân Cương mới đúng, việc bà Thu khởi kiện Hội khoa học kinh tế Việt Nam là không đúng đối tượng; lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải hướng dẫn cho bà Thu hoặc phải đình chỉ giải quyết vu án mới đúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, ông Nguyễn Quang Thái đại diện ủy quyền của Hội khoa học kinh tế Việt Nam khẳng định là có nhận khoản tiền 2 tỷ đồng từ tài khoản của bà Thu chuyển, có sử dụng khoản tiền này nhưng cho rằng đó là tiền của Hội khoa học kinh tế Việt Nam do ông Cương giữ và chuyển thông qua tài khoản của bà Thu, trong trường hợp này cần phải xác định Hội khoa học kinh tế Việt Nam chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Với các căn cứ nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Căn các vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, lời trình bày và tranh luận của các đương sự, luật sư, ý kiến của kiểm sát viên.

XÉT THẤY

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đào Kim Thu để thụ lý giải quyết vụ án, tuy nhiên theo giấy ủy nhiệm chi chuyển tiền ngày 18/01/2010 nội dung thể hiện “Nguyễn Tân Cương đóng góp cổ phần dự án”; trong qúa trình giải quyết vụ án, các đương sự cho biết ông Nguyễn Tân Cương đã chết nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Cương vào tham gia tố tụng là thiếu sót nghiêm trọng, không đảm bảo quyền và nghĩa vụ của họ trước pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, ủy nhiệm chi ngày 18/01/2010 của Ngân hàng kỹ thương Việt Nam (Techcombank), có cơ sở xác định: Bà Đào Kim Thu thông qua tài khoản của mình tại Ngân hàng kỹ thương Việt Nam (Techcombank) chuyển vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Từ Sơn, Bắc Ninh số tiền 2 tỷ đồng. Theo nội dung giấy chuyển tiền thể hiện “Nguyễn Tân Cương đóng góp cổ phần dự án”. Sau khi nhận được tiền, Hội khoa học kinh tế Việt Nam đã sử dụng số tiền trên.

Như vậy, nếu căn cứ nội dung ủy nhiệm chi chuyển tiền thể hiện thì số tiền 2 tỷ đồng là tiền của ông Nguyễn Tân Cương chứ không phải là tiền của bà Đào Kim Thu, bà Thu chỉ là người bằng tài khoản của mình để chuyển khoản tiền này cho Hội khoa học kinh tế Việt Nam.

Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bà Thu không xuất trình được bất cứ tài liệu nào để chứng minh cho việc bà góp vốn để mua nhà dự án với Hội khoa học kinh tế Việt Nam. Theo đơn khởi kiện, bà Thu cũng xác định do có quen biết và tin tưởng vào ông Nguyễn Tân Cương nên bà đã góp vốn vào dự án.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ lời khai của bà Đào Kim Thu cho rằng nguồn gốc số tiền 2 tỷ đồng là số tiền bà Thu có được là do bán nhà tại khu đô thị Văn Phú, Hà Đông và đã được bà Thu chuyển vào tài khoản của Hội khoa học kinh tế Việt Nam để góp cổ phần dự án để buộc Hội khoa học kinh tế Việt Nam phải hoàn trả số tiền 2 tỷ đồng cho bà Thu là chưa có đủ căn cứ thuyết phục.

 Do có thiếu sót nghiêm trọng về tố tụng cũng như nội dung mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được và trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Trong quá trình giải quyết lại vụ án, những vấn đề mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, luật sư nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cần phải được xem xét để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ khoản 3 Điều 275; Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 47/2014/DS-ST ngày 20/06/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử đối với nguyên đơn là bà Đào Kim Thu và bị đơn là Hội khoa học kinh tế Việt Nam về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Chuyển  hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Hội khoa học kinh tế Việt Nam không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


146
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 32/2015/DSPT ngày 02/04/2015 về tranh chấp kiện đòi tài sản

      Số hiệu:32/2015/DSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:02/04/2015
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về