Bản án 32/2017/DS-ST ngày 14/07/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 32/2017/DS-ST NGÀY 14/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 7năm 2017, tại Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 28/2017/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:32/2017/QĐXX-ST ngày 12 tháng 6 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2017/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan S, sinh năm: 1947

Địa chỉ: Tổ dân phố PS, phường CPN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

2. Bị đơn: Bà Đặng A, sinh năm: 1971

Địa chỉ: Tổ dân phố TS, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.  (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 17/3/2017 nguyên đơn ông Phan S trình bày:

Vào ngày 04/11/2014, bà Đặng A có viết giấy vay của ông Phan S số tiền10.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng và ngày 14/11/2014 bà A viết giấy tiếp tụcvay của ông S số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng. Tổng cộng bà A vay ông S số tiền 20.000.000 đồng. Nhưng tính từ ngày vay ngày 04/11/2014 đếnngày 16/3/2017 là 28 tháng, bà A không trả cho ông S một đồng tiền gốc và lãi nào. Do đó, ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà A phải trả cho ông số tiền gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả 28 tháng lãi suất 1%/tháng là 5.600.000 đồng, tổng cộng số tiền bà A phải trả cho ông S 25.600.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2017 và tại phiên tòa: Ông Phan S rút yêu cầu tiền lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phan S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết buộc bà Đặng A phải trả cho ông số tiền 20.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ánnhân dân thành phố C.

 Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn bà Đặng Anhưng bà A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà A. [2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào hợp đồng vay tiền ngày 04/11/2014 và ngày 14/11/2014 của bà Đặng A do nguyên đơn ông S cung cấp có cơ sở xác định vào 02 ngày 04/11/2014, 14/11/2014 bà A có vay của ông Sào số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 5%/ tháng. Sau đó, ông S đã nhiều lần yêu cầu bà Sương trả tiền nhưng bà A không trả.

Xét thấy: Từ ngày Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà A đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng bà A không chấp hành, không có thiện chí đến Tòa án tham gia hòa giải.

Việc vay tài sản đã diễn ra với thời gian khá dài, bị đơn không thực hiện việc trả nợ mặc dù nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bị đơn trả, đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn ông S yêu cầu bị đơn bà A phải trả cho ông số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng là có cơ sở, phù hợp với Điều 463, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

 [3] Về án phí: Bà A phải nộp 1.000.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 463, Điều 466 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phan S. Buộc bà Đặng A phải trả cho ông Phan S 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

2. Về án phí:

Bà Đặng A phải nộp 1.000.000 (Một triệu) đồng tiền án phí Dân sự sơthẩm.

Hoàn lại cho ông Phan S 640.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0011576 ngày 28/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C.

3. Quy định:

Kể từ ngày ông Phan S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đặng A không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2017/DS-ST ngày 14/07/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:32/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về