Bản án 32/2017/HS-ST về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 32/2017/HS-ST NGÀY 30/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30-8-2017, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2017/HSST, ngày 11-8-2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2017/HSST-QĐ, ngày 18-8-2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc H, sinh ngày 17-8-1999 tại tỉnh Nghệ An; trú tại: Thôn S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Khắc H và bà Nguyễn Thị P; hiện bị cáo đang tại ngoại; bị cáo có mặt.

- Người bị hại:

1. Chị Đinh Thị H; địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt;

2. Anh Đoàn Văn Đ; địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Hữu L; địa chỉ: Tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

4. Chị Nguyễn Thị Thanh L; địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Đình D; địa chỉ: Tổ M, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

2. Anh Nguyễn Minh T; địa chỉ: Tổ M, phường N, thị xã G, tỉnh Đ, vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Xuân H; địa chỉ: Tổ H, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

4. Chị Võ Thị Mỹ H; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

5. Anh Trần Văn N; địa chỉ: Tổ B, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt;

6. Cháu Trương Đức B, sinh năm 2003, người đại diện hợp pháp của cháu B: Bà Vũ Thị S là mẹ ruột; địa chỉ: Tổ M, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24-3-2017, Nguyễn Khắc H đi đến nhà chị Đinh Thị H ở thôn N, xã Q, huyện Đắk Glong để trộm cắp tài sản. Đến nơi thấy nhà chị H không có người ở nhà nên H dùng tay mở rào làm bằng lưới B40 ở phía sau nhà rồi đi vào phòng ngủ  của chị  H lấy 01  máy tính xách tay nhãn hiệu ACER ASPIRE V3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SONY M3, Model 06603, màu đen, màn hình cảm ứng. Đến khoảng 09 giờ ngày 25-3-2017, H mang máy tính xách đã trộm ra thị xã G bán cho anh Nguyễn Đình D được số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền bán máy tính H dùng để chơi game và tiêu xà i hết. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony M3, H đã cho Trương Đức B.

Quá trình điều tra, H khai nhận thêm từ ngày 31-3-2017 đến ngày 17-4-2017 còn 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Ln thứ nhất: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31-3-2017, H đi đến nhà anh Đoàn Văn Đ ở thôn N, xã Q, H trèo qua khe hở giữa tường và mái tôn chui vào trong nhà lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS và số tiền 300.000 đồng. Sau đó H bán máy tính cho anh Nguyễn Xuân H được số tiền 1.200.000 đồng. Số tiền bán máy tính và 300.000 đồng trộm cắp được H dùng để chơi game và tiêu xài hết

Ln thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 07-4-2017, H đến cơ quan Liên đoàn lao động huyện Đ ở thôn M, xã Q thì thấy cơ quan không có người, cửa phòng làm việc không khóa nên H mở cửa đi vào bên trong mở máy tính chơi game và xem phim. Đến khoảng 17 giờ ngày 08-4-2017, H lấy ở trong tủ sắt 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP-COMPAQ, CQ40-630 TU, màu xanh đen của anh Nguyễn Hữu L. Đến ngày 09-4-2017, H mang máy tính xách tay bán cho chị Võ Thị Mỹ H. Số tiền này H dùng để chơi game và tiêu xài hết.

Ln thứ ba: Khoảng 08 giờ ngày 10-4-2017, H đi đến nhà chị Nguyễn Thị Thanh L ở thôn M, xã Q thấy không có ai ở nhà nên H dùng 01 đoạn gỗ cạy cửa rồi đi vào lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER, màu xanh đen kèm theo cục sạc pin của máy, 01 máy tính bảng không rõ hiệu, màu đen và số tiền 300.000 đồng. Sau đó, H mang máy tính xách tay bán cho anh Trần Văn N được số tiền 700.000 đồng, còn máy tính bảng do không sử dụng được nên H vứt vào bồn hoa ở khu vực cầu Đ. Số tiền bán máy tính và 300.000 đồng trộm cắp được H đã tiêu xài hết

Ln thứ tư: Khoảng 14 giờ ngày 17-4-2017, H tiếp tục đến nhà anh Đoàn Văn Đ thấy không có ai ở nhà nên H đã trèo qua tường vào nhà lấy số tiền 265.000 đồng. Số tiền này, H đã tiêu xài hết

Vt chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SONY M3, màu đen, màn hình cảm ứng do Trương Đức B giao nộp; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP- COMPAQ, CQ40-630 TU, màu xanh đen do chị Võ Thị Mỹ H giao nộp; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER, màu xanh đen kèm theo cục sạc pin của máy do anh Trần Văn N giao nộp; 01 thẻ nhớ màu đen, Micro HC4, 04G do anh Nguyễn Đình D giao nộp (có hình ảnh H cam đoan về chiếc máy tính xách tay); đối với chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ACER ASPIRE V3, máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, máy tính bảng không rõ hiệu (bị hỏng không sử dụng được) và khúc gỗ H dùng làm công cụ phạm tội trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh nhưng không thu giữ được.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 23-5-2017 và ngày 17-7-2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER ASPIRE V3, trị giá: 8.400.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SONY M3, trị giá 8.500.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, trị giá: 5.650.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP-COMPAQ, CQ40-630 TU trị giá: 3.300.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer trị giá: 1.350.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 27.200.000 đồng.

Thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ nên ngày 25-5-2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26 trả lại máy tính xách tay nhãn hiệu HP-COMPAQ cho anh Nguyễn Hữu L; trả lại máy tính xách tay nhãn hiệu ACER kèm theo cục sạc của máy cho chị Nguyễn Thị Thanh L và trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SONY M3 cho chị Đinh Thị H.

Sau khi phạm tội Nguyễn Khắc H đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 8.400.000 đồng, bồi thường cho anh Đoàn Văn Đ số tiền 6.215.000 đồng. Do đó chị H, anh Đ không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

Tại bản cáo trạng số 33/CTr-VKS, ngày 08-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo Nguyễn Khắc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 69; Điều 74; Điều 60 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 6 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng; về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 75, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận ngày 25-5-2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26 trả lại 02 máy tính xách tay và 01 điện thoại di động cho anh Nguyễn Hữu L, chị Nguyễn Thị Thanh L và chị Đinh Thị H; đối với 01 thẻ nhớ cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ bảo đảm cho quá trình xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Do Nguyễn Khắc H đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 8.400.000 đồng, bồi thường cho anh Đoàn Văn Đ số tiền 6.215.000 đồng và chị H, anh Đ, chị Nguyễn Thị Thanh L, anh Nguyễn Hữu L, anh Trần Văn N, chị Võ Thị Mỹ H không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khắc H khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo H ăn năn hối cải và xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 24-3-2017 đến ngày 17-4-2017 tại địa bàn xã Q, huyện Đ, Nguyễn Khắc H nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể: Khoảng 08 giờ ngày 24-3-2017 tại nhà chị Đinh Thị H ở thôn 5, xã Q, H đã lén lút chiếm đoạt của chị H 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER ASPIRE V3, trị giá 8.400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SONY M3, trị giá 8.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 16.900.000 đồng; khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31-3-2017 tại nhà anh Đoàn Văn Đ ở thôn N, xã Q, H đã lén lút chiếm đoạt của Đ 01 máy tính xách tay nhãn h iệu ASUS trị giá 5.650.000 đồng và số tiền 300.000 đồng; khoảng 08 giờ ngày 09 -4-2017 tại Liên đoàn lao động huyện Đ thuộc thôn M, xã Q, H đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu L 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP -COMPAQ, trị giá: 3.300.000 đồng; khoảng 08 giờ ngày 10 -4-2017 tại nhà chị Nguyễn Thị Thanh L ở thôn M, xã Q, H đã lén lút chiếm đoạt của chị L 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER trị giá 1.350.000 đồng và số tiền 300.000 đồng , tổng giá trị tài sản là 1.650.000 đồng; khoảng 14 giờ ngày 17-4-2017 tại nhà anh Đoàn Văn Đ, H tiếp tục lén lút chiếm đoạt của anh Đ số tiền 265.000 đồng. Tổng trị giả tài sản Hải trộm cắp là 28.065.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, cụ thể: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại; sau khi phạm tội đã tự thú; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, o, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 69 và Điều 74 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào về hình phạt, xét thấy không cần cách ly bị cáo mà cần áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Đối với anh Nguyễn Đình D, Nguyễn Xuân H, Trần Văn N và chị Võ Thị Mỹ H không biết máy tính xách tay do Nguyễn Khắc H trộm cắp mà có nên đã mua, do đó không có căn cứ để xử lý về hình sự là phù hợp; đối với Trương Đức B do không biết điện thoại di động do H trộm cắp mà có nên đã sử dụng, do đó không có căn cứ xử lý hình sự nên không xem xét.

[5] Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 75, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy việc xử lý vật chứng là phù hợp nên cần chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 26 ngày 25-5-2017 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong; đối với 01 thẻ nhớ tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do Nguyễn Khắc H đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 8.400.000 đồng, bồi thường cho anh Đoàn Văn Đ số tiền 6.215.000 đồng và chị H, anh Đ, chị Nguyễn Thị Thanh L, anh Nguyễn Hữu L, anh Trần Văn N, chị Võ Thị Mỹ H không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 69; Điều 74; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 75, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 26, ngày 25-5-2017 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong; đối với 01 thẻ nhớ tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

3. Trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

4. Án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Khắc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đ ược quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


75
  • Tên bản án:
    Bản án 32/2017/HS-ST về tội trộm cắp tài sản
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    32/2017/HS-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    30/08/2017
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về