Bản án 32/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TNH BN TRE

BẢN ÁN 32/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phan Thanh L, sinh năm: 1978;

Địa chỉ: số 137D, đường N, khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

* Bị đơn: Bà Võ Thị Lệ H, sinh năm: 1982;

Địa chỉ: Số 01, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Phan Thanh L trình bày:

Ông và bà Võ Thị Lệ H kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường T, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 09/4/2007, hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau, ông đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, ông và bà H đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà H nên yêu cầu xin được ly hôn.

Về con chung: ông và bà H có 02 con chung tên Phan Võ Anh T, sinh ngày 25/9/2010 và Phan Thanh Ngọc H, sinh ngày 25/6/2013. Sau khi ly hôn, bà H sẽ là người trực tiếp nuôi 02 con chung, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: ông và bà H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: ông và bà H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã hai triệu tập bà H đến để tiến hành hòa giải nhưng bà H vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật: Những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Phan Thanh L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Lệ H hiện đang cư trú tại thành phố BT, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Võ Thị Lệ H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để hòa giải nhưng vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà H vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Thanh L và bà Võ Thị Lệ H kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường T, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 09/4/2007, hôn nhân do tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình hôn nhân, ông L cho rằng ông và bà H bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng nhau và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông và bà H đã ly thân từ năm 2016. Ông đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành; hiện ông không còn tình cảm với bà H nên xin ly hôn. Đồng thời vào ngày 25/4/2019, Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Ngô Kim C là mẹ ruột của ông L thể hiện ông L và bà H có mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông L và bà H là có thật và cả hai không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.

Về con chung: ông L và bà H có 02 con chung tên Phan Võ Anh T, sinh ngày 25/9/2010 và Phan Thanh Ngọc H, sinh ngày 25/6/2013. Sau khi ly hôn, ông L sẽ giao cho bà H là người trực tiếp nuôi 02 con chung và ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Xét thấy, hiện các cháu đang sống chung với bà H có cuộc sống, sinh hoạt, học tập ổn định, đồng thời việc sống chung với mẹ là phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của cháu T nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với mức cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp với điều kiện sống tại địa phương, đủ để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống tốt và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Ông L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), ông Phan Thanh L phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Thanh L, cụ thể tuyên:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Thanh L được ly hôn với bà Võ Thị Lệ H.

2. Về con chung: Bà Võ Thị Lệ H là người trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Võ Anh T, sinh ngày 25/9/2010 và Phan Thanh Ngọc H, sinh ngày 25/6/2013. Ông Phan Thanh L cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi cháu 3.000.000 (Ba triệu) đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi.

Ông Phan Thanh L được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Ông L khai không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Ông L khai không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, ông Phan Thanh L phải nộp. Tổng cộng số tiền án phí ông L phải nộp là 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001008 ngày 13 tháng 3 năm 2019 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Ông Phan Thanh L có nghĩa vụ tiếp tục nộp số tiền án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phan Thanh L được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với bà Võ Thị Lệ H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:32/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về