Bản án 330/2017/HSPT ngày 14/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 330/2017/HSPT NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI TRỘM  CẮP TÀI SẢN

Ngày 14/11/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 310/2017/HSPT ngày 04/10/2017 đối với bị cáo Cao Minh T, về tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: CAO MINH T (Tên thường gọi: B) - sinh năm 1985, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; con ông Cao Văn H và bà Đỗ Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 3710 ngày 29-11-2001 của UBND tỉnh Đắk Lắk quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với Cao Minh T với thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; tiền án: có 04 tiền án: Tại bản án số 189/HSST ngày 13-10-2004 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt Cao Minh T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31-8-2005; tại bản án số 206/2006/HSPT ngày 01-11-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Cao Minh T 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-12-2010; tại bản án số 59/2012/HSPT ngày 28-02-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Cao Minh T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-10-2012; tại bản án số 08/2014/HSSTngày 04-3-2014 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt CaoMinh T 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày29-3-2016; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày từ ngày 03-4-2017, hiện đang giam giữ, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Minh T đã có 04 tiền án chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ ngày 02-4-2017 T điều khiển xe mô tô gắn biển số 53R7-3581 đi đến huyện K, tỉnh Đắk Lắk để giải quyết việc cá nhân. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi về thành phố B, khi đi đến ngã tư xã E, huyện K, T nảy sinh ý định đến Bệnh viện đa khoa thị xã B tìm sơ hở của người nhà Bệnh nhân để trộm cắp tài sản nên vào một quán tạp hóa tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk mua 03 cái lưỡi dao lam để làm công cụ trộm cắp. Khoảng 21 giờ cùng ngày thì T điều khiển xe mô tô đi đến Bệnh viện đa khoa thị xã B thuộc phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, gửi xe tại nhà giữ xe của Bệnh viện rồi đi vào các phòng điều trị để tìm người nào có tài sản để sơ hở thì trộm cắp, tìm một lúc không phát hiện được tài sản để trộm cắp, T đi ra ghế đá trong khuôn viên Bệnh viện nằm ngủ. Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 03-4-2017, T thức dậy đi lên tầng 3 khoa nội của Bệnh viện phát hiện ông Nguyễn Ngọc H sinh năm 1961, trú tại phường T, thị xã B đi chăm sóc mẹ bị ốm đang nằm ngủ trên giường phía ngoài hành lang, mặt quay vào trong tường, trong túi quần sau bên phải có 01 ví da màu đen nhô ra bên trong có số tiền 5.800.000đ và các giấy tờ cá nhân khác. Thấy vậy, T lén lút đến dùng dao lam đã chuẩn bị sẵn rạch túi quần bên phải rách ra 13cm, rồi thò tay vào lấy ví tiền thì bị ông H tỉnh dậy phát hiện tri hô rồi T bị bắt giữ.

Vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 53R7-3581, màu sơn đỏ, số máy: VHMCT 50017752, số khung: VAMDCB023 HM 017752; 01 cái ví da màu đen có chữ TheBlues bên trong có 03 cái lưỡi lam, trong đó có 01 cái đã qua sử dụng của bị cáo Cao Minh T; 01 cái ví da màu đen, bên ngoài có chữ TOMMY, trong ví có số tiền 5.800.000 đồng, 01 cái quần Jean màu xanh có vết cắt dài 13cm, của ông Nguyễn Ngọc H.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2017/ HSST, ngày 25-8-2017 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; Điều 18; khoản 1, khoản 3 Điều 52; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự

-Xử phạt: Bị cáo Cao Minh T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 03-4-2017.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Vào ngày 30/8/2017, bị cáo Cao Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Cao Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoan 2 Điêu 138 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt. Xử phạt: bị cáo Cao Minh T  02 năm 06 tháng tu vê tôi “Trộm cắp tài sản”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Lời khai của bị cáo Cao Minh T tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Cao Minh T đã có 04 tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vào khoảng 03giờ 45 phút ngày 03/4/2017, tại bệnh viện đa khoa thị xã B, bị cáo Cao Minh T đã có hành vi lén lút trộm cắp của ông Nguyễn Ngọc H số tiền 5.800.000 đồng, bị cáo phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Cao Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm, thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Cao Minh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Minh T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2017/HS-ST, ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; Điều 18; khoản 1, khoản 3 Điều 52; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự

-Xử phạt: Bị cáo Cao Minh T: 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 03-4- 2017.

[2] Về án phí: Bị cáo Cao Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


48
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 330/2017/HSPT ngày 14/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:330/2017/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:14/11/2017
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về