Bản án 331/2018/HS-ST ngày 10/11/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 331/2018/HS-ST NGÀY 10/11/2018 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 366/2018/TLST- HS ngày 02 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:

Đặng Thế P (tên gọi khác QT), sinh năm 1977 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: xã N, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ máy; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Thế Ph, sinh năm 1953 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1953 (chết 2006); có 01 em ruột sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 17/7/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Phạm Tấn Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

2. Công ty dệt Đ; địa chỉ: Khu công nghiệp T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Hoài T, sinh năm 1968; địa chỉ: phường T, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

2. Vũ Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh BìnhDương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thế P là thợ sửa máy tại Gara Q thuộc khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Lợi dụng sự quen biết khách hàng trong quá trình sửa máy, P đã thực hiện 02 vụ chiếm đoạt tài sản như sau:

Vụ 1: Tháng 10/2015, anh Phạm Tấn Đ đưa máy phát điện đến Gara Q tại khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương nhờ Đặng Thế P sửa máy phát điện. Khoảng 01 tuần sau anh Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 đến Gara Q để hỏi máy đã sửa xong chưa. Anh Đ gặp Đặng Thế P trao đổi công việc sửa máy thì P nói với anh Đ cho P mượn xe mô tô hiệu Yamaha biển số 60B8-430.94 của anh Đ để làm phương tiện đi lại. Do Đ và P là chỗ quen biết nên anh Đ giao xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 và giấy đăng ký xe cho P mượn. Đến ngày 08/11/2015 do không có tiền chi tiêu, P đem xe mô tô nói trên đến cầm tại tiệm cầm đồ T, địa chỉ khu phố Đ, phường T, thị xã D cầm cho chị Vũ Thị H với số tiền 10.500.000 đồng. Số tiền trên P tiêu xài hết. Ngày 12/01/2016 anh Đ đến Côngan phường Tân Bình trình báo sự việc.

Vụ 2: Đặng Thế P thường xuyên đến Công ty TNHH Đ, trụ sở khu công nghiệp T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương do ông Phan Phước S làm chủ để sửa máy. Do biết ông S có nhu cầu bán xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432 nên Đặng Thế P hỏi mua. Ngày 02/10/2015, ông Phan Phước S và Đặng Thế P thỏa thuận giá bán xe là 300.000.000 đồng. Đặng Thế P nói với ông S cho P mượn xe chạy thử 02 ngày nếu xe không có vấn đề gì thì P sẽ mua với giá 300.000.000 đồng. Ông S đồng ý và giao xe cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô nói trên cho P chạy thử. Sau hai ngày sử dụng thử Đặng Thế P không trả lại xe và cũng không trả tiền cho ông S. Đến ngày 15/10/2015, Đặng Thế P đến gặp anh Nguyễn Hoài T cầm xe ô tô hiệu Mercedes– Ben, số loại C240 màu đen nói trên cho anh T với số tiền 50.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Ngày 02/12/2015 ông S đến Công an phường T trình báo sự việc.

Kết luận định giá tài sản số 15/BB.ĐG 03/02/2016 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 bị chiếm đoạt trị giá 13.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 17/BB.ĐG ngày 03/02/2016 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kết luận: xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432 bị chiếm đoạt trị giá 320.000.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 333.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại và không có ý kiến thắc mắc gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An.

Đối với chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Hoài T không biết tài sản mà ĐặngThế P đem cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Vật chứng tạm giữ:

- Xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen biển số 60B8-430.94.

- Xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432. Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 và xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432 đã trả lại bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hoài T yêu cầu bị cáo Đặng Thế P trả lại số tiền 50.000.000 đồng. Chị Vũ Thị H yêu cầu bị cáo Đặng Thế P trả lại số tiền 10.500.000 đồng.

Tại cáo trạng số 375/CT - VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Thế P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Đặng Thế P mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo P xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thế P khai nhận: Bị cáo là thợ sửa máy tại Gara QT. Vào tháng 10/2015, lợi dụng sự tin tưởng của anh Phạm Tấn Đ, P hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamaha biển số 60B8-430.94 để làm phương tiện đi lại sau đó đem xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 đến tại tiệm cầm đồ T cầm cho chị Vũ Thị H với số tiền10.500.000 đồng.

Ngày 02/10/2015 được biết ông Phan Phước S có ý định bán xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432, nên Đặng Thế P hỏi ông Phan Phước S mua chiếc xe trên. Trước khi mua P đề nghị mượn xe để chạy thử. Do quen biết nên ông S đã giao xe cùng giấy tờ xe trên cho P. Sau hai ngày sử dụng thử P không trả lại xe và cũng không trả tiền cho ông S. Đến ngày 15/10/2015, Đặng Thế P đến gặp anh Nguyễn Hoài T cầm xe ô tô nói trên cho anh Nguyễn Hoài T với số tiền 50.000.000 đồng rồi bỏ trốn.

Tại Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 qui định:

 “1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;.……

Như vậy, bị cáo Đặng Thế P lợi dụng sự tin tưởng của anh Phạm Tấn Đ và ông Phan Phước S giao xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 và xe ô tô hiệu Mercedes – Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432 sau đó đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 333.000.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo P đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bản cáo trạng số 375/CT - VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo P thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người côngdân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

 [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

 [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

 [6] Về nhân thân: Bị cáo là công nhân lao động và có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

 [7] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Vũ Thị H yêu cầu bị cáo P trả số tiền 10.500.000 đồng, anh Nguyễn Hoài T yêu cầu bị cáo trả số tiền50.000.000 đồng là tiền P cầm cố xe mô tô, xe ô tô cho chị X, anh T xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen biển số 60B8-430.94 và xe ô tô hiệu Mercedes –Ben, số loại C240 màu đen biển số 52X-9432 đã thu hồi trả lại cho bị hại. Dovậy, buộc bị cáo P phải trả chị H, anh T khoản tiền trên là phù hợp.

 [8] Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

 [9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thế P phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Thế P 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày17/7/2018.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Đặng Thế P phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị H số tiền 10.500.000 đồng và anh Nguyễn Hoài T số tiền 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễn Hoài T và chị Vũ Thị H có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho anh Nguyễn Hoài T và chị Vũ Thị H khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Thế P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.025.000 (ba triệu không trăm hai mươi lăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng có trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 331/2018/HS-ST ngày 10/11/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:331/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về