Bản án 33/2017/DS-PT ngày 27/06/2017 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 33/2017/DS-PT NGÀY 27/06/2017 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 27/6/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/TLPT-DS ngày 08/5/2017 “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do bản án sơ thẩm số 02/2017/DSST ngày 15/03/2017 của Tòa án nhân dân huyện B bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2017/QĐ-PT ngày 09/6/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn DT, xã G, huyện B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Cung Văn K, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế X, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn DT, xã G, huyện B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H (tên gọi khác A), sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn DT, xã G, huyện B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

4. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ kiện như sau: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Do anh có con học tại Trường tiểu học G, huyện B, tỉnh Bắc Ninh nên chị Nguyễn Thị H (là vợ anh) tham gia ban thường trực hội phụ huynh học sinh tại trường do anh Nguyễn Thế X làm  Hiệu trưởng. Lợi dụng mối quan hệ giữa nhà trường và hội phụ huynh học sinh anh X đã có mối quan hệ bất chính với chị H như rủ chị H đi nhà nghỉ hai lần và rủ chị H đi chơi nhiều lần để sàm sỡ dẫn đến chị H bỏ anh và con cái không quan tâm chăm sóc gia đình nữa. Sau khi bị anh phát hiện ra sự việc thì vợ chồng anh đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay anh một mình nuôi ba con nhỏ, cuộc sống gia đình bị đảo lộn nghiêm trọng. Anh đã viết đơn gửi Huyện ủy, UBND huyện B, Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh đề nghị xem xét kỷ luật anh Nguyễn Thế X vì có hành vi sàm sỡ với vợ anh. Các cơ quan đã có công văn trả lời anh. Nhận thấy hành vi của anh X đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của gia đình anh như gây thiệt hại về kinh tế do trước đây thu nhập của gia đình là tổng thu nhập của hai vợ chồng nay chỉ còn thu nhập của anh. Thiệt hại về tinh thần là các con không có sự chăm sóc của mẹ do bố mẹ sống ly thân. Do vậy, anh khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh X bồi thường cho anh tổn thất về vật chất và tinh thần với số tiền 72.000.000đ.

Bị đơn là anh Nguyễn Thế X trình bày: Chị H vợ anh T làm trong ban thường trực hội phụ huynh học sinh của Trường tiểu học xã G nơi anh làm Hiệu trưởng. Năm học 2015- 2016, anh có gọi điện mời chị H họp ban thường trực nhưng chị không đến. Đến ngày 20/11 khóa học đó chị H có đến dự với nhà trường. Ngoài lần đó anh không còn lần nào gọi điện cho chị H nên không có chuyện anh với chị H quan hệ bất chính như đơn khởi kiện của anh T. Anh không chấp nhận yêu cầu của anh T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị là chi hội trưởng phụ huynh học sinh của Trường tiểu học G nơi anh X công tác. Ngày 14 tháng 11 chị có nhận được tin nhắn từ số máy của anh X nhưng do bạn anh X nhắn. Sau đó, anh X và bạn anh X có đến nhà xin lỗi vì bạn anh X nhắn nhầm. Sau khi sự việc đó xảy ra chồng chị là anh T có đánh đập chị và ép chị viết bản khai nhận có quan hệ bất chính với anh X. Thực tế chị và anh X không có quan hệ tình cảm riêng tư. Theo chị mục đích việc anh T ép chị viết như vậy do muốn giảm uy tín của anh X vì trong gia đình chị có người thân đang tranh chấp về việc tổ chức cán bộ ở địa phương.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm đã áp dụng Điều 604; 611 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T do ông Cung Văn K làm đại diện đòi anh Nguyễn Thế X bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 72.000.000đ.

Anh Nguyễn Thế X không có nghĩa vụ phải bồi thường số tiền 72.000.000đ cho anh Nguyễn Văn T.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/3/2017, anh Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và sau đó có nhiều đơn kháng cáo bổ sung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án số 02/2017/DSST, ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện B để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay anh Nguyễn Văn T do ông Cung Văn K đại điện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và đề nghị anh X phải bồi thường cho anh T 72.000.000đ, đồng thời phải chịu hậu quả pháp lý. Căn cứ pháp lý ông K đưa ra là bản tường trình của chị H và lời thú nhận của anh X qua đĩa ghi âm.

Các đương sự không tự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự pháp luật quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay thì thấy:

Anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thế X bồi thường thiệt hại về tinh thần do hành vi sàm sỡ và có quan hệ bất chính với chị H là vợ anh. Anh T đã cung cấp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án bao gồm: Công văn số 12/CV-KT ngày 06/5/2016 của huyện ủy B, Công văn số 451/CV-UBND ngày 23/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện B, công văn số 1050/HĐ-SGDĐT ngày 24/8/2016 của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh, bản tường trình ngày 27/12/2015 của chị H là vợ anh và đĩa ghi âm anh X thừa nhận có quan hệ với chị H nhưng anh không có bằng chứng cụ thể để khẳng định giữa anh X và vợ anh có quan hệ bất chính. Chị Nguyễn Thị H vợ anh khẳng định không có quan hệ tình cảm riêng tư với anh X, còn bản khai nhận do chị H viết có bị anh X dụ dỗ đi uống nước, đi nhà nghỉ là do bị anh T đánh đập, ép buộc nên chị phải viết như vậy. Chị là chi hội trưởng phụ huynh học sinh nơi con chị học, nơi anh X là Hiệu trưởng nên chị và anh X có liên lạc là do tính chất công việc. Bản thân anh X cũng khẳng định không có quan hệ bất chính hay sàm sỡ với chị H.

Ngoài ra, trước khi khởi kiện tại Tòa án anh T cũng đã gửi đơn tố cáo anh X tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, kiểm tra nhưng không có căn cứ xác định anh Nguyễn Thế X có quan hệ bất chính đối với chị H như anh T tố cáo. Như vậy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS- ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện B đã xử bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đòi anh Nguyễn Thế X phải bồi thường 72.000.000đ tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh T do ông K đại diện cung cấp bổ sung tài liệu là bản sao công chứng Quyết định số 820/QĐ-UBND ngày 09/8/2016 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Bắc Ninh; Quyết định số 14/QĐ-UBKT ngày 28/7/2016 của Uỷ ban kiểm tra huyện ủy B và phiếu chuyển đơn của Báo quân đội nhân dân, Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thanh tra tỉnh Bắc Ninh, Ban thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Ninh, Thường trực HĐND tỉnh Bắc Ninh, Ban thường vụ Hội LHPN tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên đó chỉ là phiếu chuyển đơn tố cáo của anh Nguyễn Văn T đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ngoài ra, anh T còn cung cấp hợp đồng lao động không thời hạn về việc thuê anh Nguyễn Văn Tuấn quản lý việc đi lại cùng các hoạt động ngoài xã hội của các con anh T mỗi tháng là 5.000.000đ. Đây không phải là chứng cứ làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 604 và Điều 611 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó kháng cáo của anh Nguyễn Văn T đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Thế X phải bồi thường thiệt hại cho gia đình anh T số tiền 72.000.000đ và đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm có vi phạm, thiếu sót sau:

- Tại bản án sơ thẩm phần nhận định của tòa án: “Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí DSST theo quy định tại pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án của UBTV Quốc hội số 10/2009/PL-TVQH12 ngày 27/2/2009” nhưng phần  quyết định của bản án sơ thẩm lại áp dụng nghị quyết số 326/2016 của UBTV QH14 ủy ban thường vụ Quốc hội số ngày 30/12/2016 là không chính xác.

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 09/02/2017 có nội dung phiên tòa được mở ngày 15/3/2017 (quá 30 ngày) là vi phạm khoản 4 Điều 203 BLTTDS 2015.

Xét các vi phạm, thiếu sót trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không nghiêm trọng, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604; 611 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T do ông Cung Văn K đại diện đòi anh Nguyễn Thế X bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 72.000.000đ.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn T chịu 3.600.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại biên lai thu số 01030 ngày 20/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


84
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về