Bản án 33/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 33/2017/HSST NGÀY 27/7/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nông Văn L1, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1988; tại xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; con ông Nông Văn G và bà Bế Thị Y; vợ: Đinh Thị N; con: có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2016 đến nay, có mặt.

2. Lý Văn C, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1989; tại xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Nùng; con ông Lý Văn D và bà Hoàng Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2016 đến nay, có mặt.

3. Đinh Văn Đ1, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1990; tại xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; con ông Đinh Văn B và bà Nông Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2017 đến nay, có mặt.

4. Nông Văn L2, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1990; tại xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; con ông Nông Văn G và bà Bế Thị Y; vợ: Đinh Thị P; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2017 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lý Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: V S, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

2. Anh Lô Văn Đ2, sinh năm 1993; chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện Tràng, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

3. Anh Triệu Văn B, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

4. Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Nông Văn L1, Lý Văn C, Đinh Văn Đ1 và Nông Văn L2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bởi hành vi phạm tội như sau:

Hồi 20 giờ 45 ngày 21/11/2016 tại cầu P, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện Tràng Định bắt quả tang Nông Văn L1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho các đối tượng nghiện. Tang vật thu giữ gồm: 05 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12T1-117.90 và số tiền 300.000 đồng. Nông Văn L1 thừa nhận chất bột màu trắng có trong 05 gói nhỏ đều là chất ma túy Heroine do L1 mua với Lý Văn C. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn C, kết quả đã thu giữ được: 01 gói giấy có dòng kẻ, bên ngoài bọc bằng vỏ bao thuốc lá Thủ Đô, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 5S và 01 xe mô tô biển kiểm soát 12T1-036.97 và 590.000đ.

Đến ngày 18 tháng 4 năm 2017 Đinh Văn Đ1 bị bắt thu giữ 01 điện thoại NOKIA Lumia 525 màu đen trắng, số IMEI 359182050683831 và 200.000đ.

Tại Bản kết luận giám định số 28/KL-PC54, ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận:

- Chất bột màu trắng có trong 05 gói nhỏ thu giữ của Nông Văn L1 khi bắt quả tang đều là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,111 gam.

- Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy bên ngoài bọc bằng vỏ bao thuốc lá Thủ Đô thu giữ của Lý Văn C là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,021 gam.

Quá trình điều tra, Nông Văn L1 và Lý Văn C thừa nhận bản thân nghiện chất ma túy nên đã thường xuyên mua ma túy Heroine về sử dụng và nhiều lần bán lại cho các đối tượng nghiện. Ngày 11/11/2016 C đã dùng 600.000 đồng trong tổng số 800.000 đồng mà L1 đưa cho để mua ma túy với 01 người đàn ông (C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tại chợ Bằng Khẩu, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Sau đó C mang về chia cho L1 một phần rồi cả hai đến tầng ngầm nhà Nông Văn L2 chia ra các gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện. Cụ thể: Nông Văn L1 được bán ma túy Heroine cho Lý Văn T 02 lần vào các ngày 20 và 21/11/2016, bán cho Lô Văn Đ2 02 lần, mỗi lần 01 gói giá 50.000 đồng vào các ngày 19 và 20/11/2016; Lý Văn C được bán ma túy Heroine cho Lý Văn T 02 lần, mỗi lần 01 gói giá 50.000 đồng tại nhà của C vào các ngày 15 và 16/11/2016, bán cho Lô Văn Đ2 02 lần trước thời điểm bị bắt khoảng 01 tuần, bán cho Triệu Văn B 02 lần tại thời điểm trước khi bị bắt khoảng 03 - 04 ngày và ngày 21/11/2016. Sau khi bán ma túy cho các đối tượng nghiện, Lý Văn C đã cho Lý Văn T và Lô Văn Đ2 sử dụng (hít) ma túy Heroine tại nhà mình tổng cộng 04 lần (mỗi người 02 lần).

Mở rộng điều tra, đã xác định được: Buổi chiều ngày 12/11/2016, trong quá trình L1, C chia nhỏ chất ma túy tại tầng ngầm nhà Nông Văn L2 thì có Đinh Văn Đ1 mặc dù biết việc Nông Văn L1 chia nhỏ ma túy ra để bán nhưng vẫn giúp L1 xúc, đóng gói ma túy Heroine và được L1 cho sử dụng (hít) ma túy ngay tại địa điểm chia. Nông Văn L2 là chủ nhà đã trực tiếp chứng kiến việc L1, C, Đ1 chia nhỏ và cùng sử dụng ma túy bằng hình thức hít Heroine trên giường kê ở dưới tầng ngầm nhà mình, nhưng vẫn đồng ý cho cả ba đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Lý Văn T, Lô Văn Đ2 và Triệu Văn B đến làm việc, kết quả các đối tượng trên đều thừa nhận được mua ma túy Heroine với Nông Văn L1 và Lý Văn C phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng và giá tiền mà L1, C đã khai. Lý Văn T và Lô Văn Đ2 cũng khẳng định sau khi mua ma túy, T và Đ2 được Lý Văn C cho phép sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít Heroine tại nhà của C. Xét thấy hành vi của các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Tràng Định đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với T, Đ2, B.

Đối với đối tượng bán ma túy cho C tại khu vực chợ Bằng Khẩu, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Xét thấy đây là lời khai một phía của C, mặt khác không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của đối tượng này nên không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1 -11790 thu giữ của Nông Văn L1 khi bắt quả tang. Xét thấy đây là tài sản của anh Đinh Mạnh Tuấn (sinh năm 1992, trú tại: N - K - huyện T), khi L1 mượn xe thì anh Tuấn không biết việc L2 sử dụng xe vào mục đích bất hợp pháp. Do đó, ngày 09/01/2017 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe nói trên cho anh Tuấn là chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 25/KSĐT-MT ngày 29 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn L1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 194 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lý Văn C về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 198 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đinh Văn Đ1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1, Điều 194 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nông Văn L2 về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 198 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân giống như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không oan. Các bị cáo không có ý kiến gì về phần tội danh, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

- Các bị cáo Nông Văn L1 và bị cáo Đinh Văn Đ1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Bị cáo Lý Văn C phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”;

- Bị cáo Nông Văn L2 phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn L1, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;

- Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm b, khoản 2, Điều 198; điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 50, Điều 53 của bộ luật hình sự đối với bị cáo Lý Văn C; xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và xử phạt từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn C từ 14 năm tù đến 15 năm tù.

- Áp dụng khoản 1, Điều 194, điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 53 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn Đ1; xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 198, điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn L2; xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xác nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe máy cho anh Tuấn.

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong chất ma túy.

Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại iphone 5s và sung công quỹ Nhà nước 90.000đ của bị cáo C.

Trả cho Bị cáo C 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12T1-036.97 và 500.000đ

Trả cho bị cáo L1 300.000đ; bị cáo Đ1 200.000đ và 01 điện thoại nokia lumia.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY

Lời khai của các bị cáo Nông Văn L1, Lý Văn C, Đinh Văn Đ1 và Nông Văn L2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có căn cứ để xác định được: Nông Văn L1 và Lý Văn C là những đối tượng nghiện chất ma túy nên đã mua ma túy Heroine về sử dụng và nhiều lần bán lại cho các đối tượng nghiện. Ngày 11/11/2016 C đã dùng 600.000 đồng trong tổng số 800.000 đồng mà L1 đưa cho để mua ma túy với 01 đối tượng tại chợ Bằng Khẩu, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Sau đó C mang về chia cho L1 một phần rồi cả hai đến tầng ngầm nhà Nông Văn L2 chia ra các gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện. Tại đây, có Đinh Văn Đ1 mặc dù biết việc Nông Văn L1 chia nhỏ ma túy ra để bán nhưng vẫn giúp L1 xúc, đóng gói ma túy Heroine và được L1 cho sử dụng (hít) ma túy ngay tại địa điểm chia. Nông Văn L2 là chủ nhà đã trực tiếp chứng kiến việc L1, C, Đ1 chia nhỏ và cùng sử dụng ma túy bằng hình thức hít Heroine trên giường kê ở dưới tầng ngầm nhà mình, nhưng vẫn đồng ý cho cả ba đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình sử dụng và bán ma túy, Nông Văn L1 được bán ma túy Heroine cho Lý Văn T 02 lần, bán cho Lô Văn Đ2 02 lần mỗi lần 01 gói giá 50.000đ; Lý Văn C được bán ma túy Heroine cho Lý Văn T 02 lần, mỗi lần 01 gói giá 50.000đ tại nhà của C, bán cho Lô Văn Đ2 02 lần, bán cho Triệu Văn B 02 lần. Sau khi bán ma túy cho các đối tượng nghiện, Lý Văn C đã cho Lý Văn T và Lô Văn Đ2 sử dụng (hít) ma túy Heroine tại nhà mình tổng cộng 04 lần (mỗi người 02 lần).

Đến 20 giờ 45 ngày 21/11/2016 tại cầu Pắc Cù, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện T đã bắt quả tang Nông Văn L1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho các đối tượng nghiện, thu giữ được: 05 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng. Nông Văn L1 thừa nhận chất bột màu trắng có trong 05 gói nhỏ đều là chất ma túy Heroine do L1 mua với Lý Văn C. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn C, Cơ quan điều tra đã thu giữ được: 01 gói giấy có dòng kẻ, bên ngoài bọc bằng vỏ bao thuốc lá Thủ Đô, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Qua giám định đã xác định được: Chất bột màu trắng có trong 05 gói nhỏ thu giữ của Nông Văn L1 đều là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 0,111 gam (đã trừ bi); Chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn C là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,021 gam (đã trừ bì).

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Nông Văn L1, Lý Văn C, Đinh Văn Đ1 và Nông Văn L2 là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, am hiểu về pháp luật, biết được việc mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích vụ lợi. Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến trật tự xã hội ở địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần có một hình phạt nghiêm khắc, thỏa đáng nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác.

Trong vụ án này các bị cáo C, L1, Đ1 tham gia với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn và vai trò các bị cáo tham gia trong vụ án như nhau, để cá thể hóa hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội nêu trên. Để có mức án thỏa đáng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Lý Văn C tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội và đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, nhưng do mua bán ma túy thu lại siêu lợi nhuận nên bị cáo vẫn bất chấp coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, lao sâu vào con đường phạm tội mua bán ma túy để kiếm lời, đồng thời C còn chứa chấp cho các đối tượng mua ma túy, sử dụng ma túy ngay tại nhà của mình (Theo quy định tại tiểu mục 7.2 mục 7 phần II Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn người nào “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy). Với các hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên thấy rằng có căn cứ để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài đủ để làm bài học răn đe đối với những người khác. Ngoài tình tiết tăng nặng định khung hình phạt thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo chưa thật sự thành khẩn khai báo, còn quanh co. Tuy nhiên bị cáo biết ăn năn hối cải, do vậy bị cáo chỉ hưởng một phần tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với bị cáo Nông Văn L1 là người có sức khỏe, có hiểu biết pháp luật, mặc dù biết được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện vì mục đích tư lợi nhằm có ma túy để sử dụng và kiếm tiền bất chính phục vụ cho các nhu cầu ăn chơi của bản thân. Bị cáo đã chủ động đưa tiền cho bị cáo C đi mua ma túy về để chia nhỏ ra bán cho các đối tượng nghiện. Do đó, cũng cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để làm bài học răn đe đối với những người khác. Ngoài tình tiết tăng nặng định khung hình phạt thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, do vậy có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với bị cáo Đinh Văn Đ1 là người có sức khỏe, có hiểu biết nhất định về xã hội và pháp luật, nhưng do nghiện ma túy, nên khi anh rể là Nông Văn L1 bảo hộ chia ma túy thành các gói nhỏ để bán và sẽ cho ma túy sử dụng, mặc dù bị cáo biết rõ hành vi này là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã đồng ý thực hiện với vai trò giúp sức cho các đối tượng L1 và C cùng chia nhỏ ma túy để bán. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần một hình phạt thỏa đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, do vậy có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với bị cáo Nông Văn L2 có hiểu biết nhất định về xã hội và pháp luật. Mặc dù bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì là chỗ anh em quen biết nên khi biết các đối tượng L1, C và Đ1 chia và sử dụng ma túy tại nhà của mình ngày 12/11/2016, bị cáo vẫn đồng ý cho các đối tượng này chia ma túy thành các gói nhỏ để bán và cho sử dụng ma túy tại nhà của mình đến khi kết thúc (Theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần II Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn “phạm tội đối với nhiều người” quy định tại khoản 2 Điều 198 của BLHS người nào “Trong một lần phạm tội chứa chấp từ hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy”). Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần một hình phạt thỏa đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe những người khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, do vậy có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-036.97 mà bị cáo Lý Văn C sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy bị thu giữ ngày 21/11/2016. Ngày 26/7/2017 Tòa án nhận được đơn xin lấy lại chiếc xe mô tô mà bị cáo C sử dụng đi mua ma túy cũng như phiên tòa bà Hoàng Thị P là mẹ của bị cáo C trình bày. Gia đình bà mua được chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-036.97 là tiền do hai vợ chồng bà bán cây thạch đen và bán lợn được, bà P đi mua xe để cho con trai Lý Văn C đứng tên đăng ký vì chồng của bà không có giấy phép lái xe và bà cũng không biết đi xe máy, bà bị bệnh tật để cho Lý Văn C đứng tên đăng ký vì C đã có giấy phép lái xe cho việc thuận tiện để đưa đón bà P đi khám, chữa bệnh. Bà P mua chiếc xe hết 18.000.000 đồng đây là tài sản của chung của gia đình, còn việc Lý Văn C sử dụng chiếc xe nêu trên đi mua ma túy bà P không biết, bà P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho gia đình để phục vụ đi lại cho gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà P là có căn cứ, cơ sở do vậy, cần trả lại chiếc xe máy cho bị cáo C là hợp lý vì đây là tài sản chung của gia đình bà P.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đối với số ma túy thu giữ tịch thu tiêu hủy; vật dụng để chứa và sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 90.000 đồng và chiếc điện thoại di động IPHONE 5S thu giữ được của bị cáo Lý Văn C, do bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Nông Văn L1; 500.000 đồng của Lý Văn C; 200.000 đồng của Đinh Văn Đ1 không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

Trả cho Lý Văn C chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-036.97. Trả chiếc điện thoại NOKIA lumia 525 cho bị cáo Đ1.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Qua các tài liệu điều tra, xác minh xét thấy các bị cáo không có tài sản gì, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xác nhận ngày 09/01/2017 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-11790 cho anh Tuấn là chủ sở hữu. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

I. Tuyên bố:

- Bị cáo Nông Văn L1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Bị cáo Lý Văn C phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”;

- Bị cáo Đinh Văn Đ1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Bị cáo Nông Văn L2 phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”;

+ Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 53 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn L1.

+ Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm b, khoản 2, Điều 198; điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 50, Điều 53 của bộ luật hình sự đối với bị cáo Lý Văn C.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 194, điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 53 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn Đ1.

+ Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 198, điểm p, khoản 1, Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn L2.

- Xử phạt bị cáo Nông Văn L1 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2016.

- Xử phạt bị cáo Lý Văn C 07 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 07 năm tù giam về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp cả 02 (hai) tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 14 năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 22/11/2016.

- Xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ1 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2017.

- Xử phạt bị cáo Nông Văn L2 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2017.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

II. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b, khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì thư niêm phong mẫu vật còn nguyên vẹn bên trong chứa chất ma túy.

Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 5S, màu trắng, đã cũ qua sử dụng, số IMEI: 359182050683831, thu của bị cáo Lý Văn C;

Trả cho Đinh Văn Đ1 01 điện thoại NOKIA lumia 525 màu đen trắng, số iMEi 359182050683831 và 200.000đ

Trả cho bị cáo Lý Văn C 01 xe mô tô biển kiểm soát: 12T1-03697 nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đã qua sử dụng, số máy: JC52E4450404; số khung: 5211CY298370; và 500.000đ

Trả cho Nông Văn L1 300.000đ

Tịch thu số tiền 90.000 đồng từ của bị cáo C, sung công quỹ Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định ngày 04 tháng 7 năm 2017)

(Toàn bộ số tiền trên được gửi tại tài khoản của số 3949.0.1054413.000.00, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định theo ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 04 tháng 7 năm 2017 tại Kho bạc Nhà nước huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

III. Về án phí: Căn cứ các khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nông Văn L1, Lý Văn C, Đinh Văn Đ1 và Nông Văn L2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Số hiệu:33/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tràng Định - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về