Bản án 33/2018/HS-ST ngày 07/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 33/2018/HS-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:39/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T, tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 23 tháng 02 năm 1976 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Hiện là đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số: 53-QĐ/UBKTHU, ngày 31-01-2018 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Chợ Mới.

Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M;

Bị cáo có vợ là Phương Thị T và 02 con (con lớn sinh năm 2000; con nhỏ sinh năm 2007;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2018 đến ngày 22/01/2018 thì bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 01/02/2018 bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ đó cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/01/2018, tại tổ B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an thị trấn Chợ Mới bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nhỏ chất bột màu trắng gói bằng loại giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng đang được nắm trong lòng bàn tay phải của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 thẻ SIM số 0961.349.176.

Qua đấu tranh, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 19/01/2018, T một mình đi xe buýt xuống Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến bến xe khách cũ tỉnh Thái Nguyên, T xuống xe đi bộ vào trong bến xe mua với một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T ra đón xe buýt về đến thị trấn C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì xuống xe và đi bộ lên Đài tưởng niệm thuộc tổ B, thị trấn C để sử dụng thì bị công an bắt quả tang.

Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và khu vực phụ cận của Nguyễn Văn T, kết quả khám xét không thu giữ gì thêm.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định trọng lượng ngày 19/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xác định: 01 gói nhỏ chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng trọnglượng là 0,142 gam, trích 0,028 gam niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định, còn lại 0,114 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật được niêm phong tại phong bì ký hiệu T2 là tang vật của vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số: 29/PC54-MT ngày 09/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn nêu: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý, loại Hêrôin”.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,114 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật được niêm phong tại phong bì ký hiệu T2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 thẻ SIM số 0961.349.176, hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và việc xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện Chợ Mới, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới.

Bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-CM, ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 12đến 18 tháng tù, trừ thời hạn tạm giam, tạm giữ.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,114 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật được niêm phong tại phong bì ký hiệu T2 và 01 thẻ sim số 0961.349.176; Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/01/2018, tại khu vực tổ B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ ma túy (Herôin) có tổng trọng lượng là: 0,142 gam, với mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

 [3] Tại điểm a, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội quy định:

“1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;”

[4] Tại khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”.

[5] Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 19/01/2018, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử đối với bị cáo.

[6] Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội"Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

[7] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xét thấy cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[8] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, vì vậy, bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[9] Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự,có kiến thức pháp luật nhất định, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Hơn nữa theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản để đảm bảo thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[11] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,114 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật được niêm phong tại phong bì ký hiệu T2, là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 thẻ sim số 0961.349.176, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm xác định là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo không sử dụng để mua bán ma túy, xét thấy cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ chiếc điện thoại di động của bị cáo để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 thẻ sim số 0961.349.176, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

[12] Đối với người phụ nữ đã bán cho T 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng vào ngày 19/01/2018 tại bến xe khách cũ tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với đối tượng này, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, đượctrừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày (19/01/2018 đến ngày 01/02/2018) là 14ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại là 14 (Mười bốn) tháng 16 (Mười sáu) ngày tù, thời gian chấp hành án tính từ ngày bị cáo vào Trại để thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 0,114 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật được niêm phong tại phong bì ký hiệu T2 và 01 thẻ sim số 0961.349.176.

- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn ngày 22 tháng 5 năm 2018.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


32
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về