Bản án 33/2019/DS-ST ngày 21/02/2019 về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 33/2019/DS-ST NGÀY 21/02/2019 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2014/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm2014 về: “tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đoàn Ngọc Q, sinh năm 1975; địa chỉ: phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông Q: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm1959; địa chỉ: phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền số công chứng 007069 ngày 10/5/2014 do Văn phòng Công chứng G chứng nhận) (Ông L có mặt).

- Bị đơn: Ông Quách Liêm H, sinh năm 1970; địa chỉ: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.(Ông H vắng mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, địa chỉ trụ sở: , Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Nguyễn Hải N là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt)

2/ Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z (tên cũ là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q), địa chỉ trụ sở: Phường S, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Hoàng Tấn L là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt)

3/ Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ N, địa chỉ trụ sở: Phường V, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Vũ Văn T là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được, phía nguyên đơn – ông Đoàn Ngọc Q do ông Nguyễn Thanh L đại diện trình bày:

Vào ngày 07/8/2012, ông Q có đến quán cà phê Đ tại địa chỉ số Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Quách Liêm H làm chủ quán, để uống cà phê. Tại đây, ông Q gởi chiếc xe gắn máy SH 150i có biển kiểm soát 59P1-469.99, số máy F08E-1078596, số khung BF-107177 đứng tên chủ sở hữu là Đoàn Ngọc Q vào bãi giữ xe của quán. Sau khi gởi xe vào bãi giữ xe, ông được cấp phiếu giữ xe máy số 077048 do Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Năm S nhận trách nhiệm giữ. Sau khi uống cà phê xong, ông Q ra bãi giữ xe thì phát hiện chiếc xe máy của ông không còn ở bãi giữ xe. Ông Q đã cùng với ông Quách Liêm H là chủ quán và người làm chứng là ông Nguyễn Văn N ra trình báo và làm đơn cớ mất tại Công an Phường X, quận Y. Ngày 25/8/2012, tại trụ sở Công an Phường X, quận Y, ông Quách Liêm H và ông Trần Thanh L - đại diện Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q(tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z) có thỏa thuận bồi thường cho ông Q 110.000.000 đồng nhưng ông không đồng ý mà yêu cầu bồi thường 120.000.000 đồng vì xe còn mới và ông chỉ mới đi được 03 tháng. Do hai bên bất đồng về việc bồi thường nên ông Q khởi kiện yêu cầu ông Quách Liêm H phải bồi thường số tiền 120.000.000 đồng từ việc làm mất chiếc xe máy nói trên và trả tiền lãi từ ngày thỏa thuận bồi thường 25/8/2012 đến ngày khởi kiện là 20 tháng với lãi suất 0.75%/tháng là 18.000.000đồng. Tổng số tiền yêu cầu ông Hoàng phải bồi thường là 138.000.000 đồng.

Tại các biên bản không tiến hành hòa giải được, ông Nguyễn Thanh L, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn chỉ yêu cầu ông H phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 120.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi và chỉ yêu cầu cá nhân ông H bồi thường số tiền trên, không yêu cầu Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ N, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z hay Công ty CP Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ hay cá nhân nào khác phải liên đới bồi thường.

Bị đơn, ông Quách Liêm H trình bày:

Tại thời điểm ông Q mất xe, quán cà phê của ông có ký hợp đồng thuêCông ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q (tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z), địa chỉ tại số Phường S, quận Y do ông Trần Thanh L là giám đốc đại diện, để phụ trách về an ninh và bảo vệ tài sản. Khi xảy ra mất xe, tại Công an Phường X, quận Y có lập biên bản 03 bên, đồng ý bồi thường cho ông Q 110.000.000 đồng nhưng ông Q không đồng ý mà yêu cầu bồi thường120.000.000 đồng. Tại biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 16/12/2015, ông H không đồng ý với kết quả định giá theo biên bản định giá của Hội đồng định giá. Tuy nhiên, ông H không yêu cầu định giá lại và nếu phải bồi thường thì ông chỉ đồng ý với mức giá dao động từ 120.000.000 đồng trở lại. Tại phiên tòa ngày 13/4/2016, ông H khai Công ty Đký hợp đồng bảo vệ với Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q(tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z) và Công ty Q thỏa thuận với Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Năm S cử nhân viên của

Công ty Năm S xuống giữ xe tại quán cà phê Đ do ông làm chủ. Ông là người đứng tên chủ quán nhưng ông có hùn với một số người khác để mở quán này. Khi mất xe, có yêu cầu ông Q xuất trình giấy tờ đăng ký xe bản gốc để làm cơ sở bồi thường nhưng ông Q không đáp ứng được. Nay do Công ty bảo vệ khôngbồi thường được nên ông Q yêu cầu ông bồi thường, ông không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q(tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z), Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Nđã được Tòa án triệu tập nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà không có lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn do ông Nguyễn Thanh L đại diện trình bày: Việc ông Q đến uống cà phê tại quán Đ do ông Quách Liêm Hlàm chủ và gửi chiếc xe máy Honda Sh150i cho nhân viên bảo vệ của quán giữ, được cấp phiếu giữ xe số 077048 thì giữa ông Q và chủ quán cà phê đã giao kết hợp đồng gửi giữ tài sản. Việc quán cà phê làm mất xe của ông Q là đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng gửi giữ tài sản, gây thiệt hại cho ông Q. Theo quy định tại Điều 560, 566 Bộ luật dân sự năm 2005, đây không phải là trường hợp bất khả kháng nên bên nhận giữ xe phải có trách nhiệm bồi thường. Do vậy, yêu cầu ông Quách Liêm H phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Đoàn Ngọc Q trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Sh150i bị mất là 120.000.000 đồng, không yêu cầu ông Hoàng phải trả tiền lãi đối với số tiền nêu trên. Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông H, không yêu cầu vợ ông H và Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q(tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z), Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Nphải có trách nhiệm liên đới bồi thường.

Bị đơn, ông Quách Liêm H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z, Công ty TNHH Dịch vụBảo vệ Nvẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, còn thời hiệu khởi kiện, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Khi Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Đoàn Ngọc Q khởi kiện yêu cầu ông Quách Liêm H bồi thường giá trị chiếc xe gắn máy Honda Sh150i bị mất khi ông Q đến uống càphê và gửi xe cho nhân viên bảo vệ quán cà phê của ông H nên xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” theo quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự năm 2005.

Nguyên đơn – ông Đoàn Ngọc Q khởi kiện đòi bị đơn – ông Quách Liêm H bồi thường trị giá chiếc xe bị mất. Ông Hcư trú tại quận Y nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dânsự năm 2015.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông H là chủ quán cà phê Đchịu trách nhiệm bồi thường. Bị đơn, ông Quách Liêm H cũng có yêu cầu một mình ông chịu trách nhiệm bồi thường vì quán cà phê Đkhông phải là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết đưa vợ ông H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn, ông Quách Liêm H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q(tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z), Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Nđã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

 [2] Về pháp luật nội dung:

 [2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn – ông Đoàn Ngọc Q đòi bị đơn – ôngQuách Liêm H bồi thường giá trị chiếc xe máy bị mất:

Theo lời khai của các đương sự tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thì vào ngày 07/8/2012, ông Q đến quán cà phê Đuống cà phê, tại đây nhân viên giữ xe của quán đã nhận giữ chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Honda Sh150i, số máy KF08E – 1078596, số khung BF – 107177, biển số xe 59P1-46999 do ông Q đứng tên chủ sở hữu và giao cho ông Q phiếu giữ xe máy số 077048, số xe 46999. Căn cứ vào các chứng cứ và lời khai trên thì Hội đồng xét xử xác định giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng gửi giữ tài sản theo quy định tại Điều 559 Bộ luật dân sự 2005.

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận thương lượng bồi thường do Công an Phường X, quận Y lập ngày 25/8/2012, đơn cớ mất của ông Đoàn Ngọc Q, phiếu giữ xe gắn máy số 077048, phiếu trả lời xác minh số 682/CSGT ngày 23/5/2013 của Đội cảnh sát giao thông Công an quận Y; căn cứ lời khai của đại diện nguyên đơn, bị đơn thì có căn cứ xác định có việc ông Đoàn Ngọc Q bị mất chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Honda Sh150i, số máy KF08E – 1078596, số khung BF – 107177 do ông Đoàn Ngọc Q đứng tên khi ông Q đang gửi xe tại quán cà phê Đ.

Theo lời khai của ông H thì quán cà phê do ông cùng với một số người bạn hùn vốn. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, yêu cầu ông H cung cấp họ tên, địa chỉ của những người này nhưng ông H không cung cấp được cho Tòa án. Theo Công văn số 62/KT ngày 11/4/2016 của Phòng kinh tế quận Y thì “Ông Quách Liêm H có đăng ký kinh doanh ngành nghề dịch vụ ăn uống tại số Phường X, quận Y, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số41N8021257 do Ủy ban nhân dân quận Y cấp ngày 18/7/2012” nên xác định ông H là chủ quán cà phê Đ.

Căn cứ lời khai của ông H và các Thông báo số 02/2012/CV do ông H cung cấp cho Tòa án thì Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q (tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z) có cử nhân viên để phụ trách an toàn và bảo vệ tài sản, trong đó có việc trông giữ xe cho quán cà phê Đtheo hợp đồng. Tuy nhiên, ông H xác nhận hợp đồng này đã bị thất lạc, ông không cung cấp được cho Tòa án (bản tự khai ngày 22/3/2016). Theo lời khai của ông H tại phiên tòa ngày 13/4/2016 và Công văn số 01/2012/CV-QA ngày 08/8/2012 thì Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Nchỉ cử nhân viên trực thuộc Công ty sang làm việc cho Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Qtại quán cà phê Đvà ông H cũng đã chấp nhận đểcác nhân viên này phụ trách giữ xe cho quán cà phê Đdo ông làm chủ. Xét thấy, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q (tên mới là Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z) và Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Nkhông tự tổ chức dịch vụ giữ xe mà chỉ cử người đến giữ xe cho quán cà phê Đ theo sự thỏa thuận giữa các bên. Khi ôngQ vào uống cà phê và gửi chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Honda Sh150i, biển số xe59P1-46999 tại quán Đ thì phát sinh quan hệ hợp đồng gửi giữ tài sản, trong đó ông Đoàn Ngọc Q là bên gửi tài sản và chủ quán cà phê Đ (ông Quách Liêm H) là bên giữ tài sản. Tại Công an Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Thanh L, đại diện cho Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Qcó đồng ý bồi thường trị giá chiếc xe là từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng khi có hồ sơgốc của xe bị mất. Tuy nhiên, các bên đã không thỏa thuận được việc bồi thường nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông H, chủ quán cà phê Đ phải bồi thường. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Qvắng mặt, không có bất cứ ý kiến trình bày nào. Theo quy định tại khoản 2 điều 561 Bộ luật dân sự 2005 về quyền của bên gửi tài sản: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên giữ làm mất mát, hư hỏng tài sản, trừ trường hợp bất khả kháng”, và khoản 4 Điều 562 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nghĩa vụ của bên giữ tài sản: “Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng”. Như vậy, việc ông Q yêu cầu ông H phải bồi thường giá trị chiếc xe máy bị mất của ông Q là có căn cứ chấp nhận.

 [2.2] Xét số tiền yêu cầu bồi thường của nguyên đơn: Tại Biên bản định giá ngày 26/11/2015, Hội đồng định giá tài sản đã kết luận: Xe gắn máy 02 bánh hiệu Honda Sh150i, đời 2011, dung tích 153m3, đăng bộ tháng 5/2012, xe đã qua sử dụng, máy còn nguyên thủy, chất lượng máy còn khoảng 95%, tài sản định giá vào thời điểm tháng 8/2012 là 170.000.000 đồng. Ông H không đồng ý với kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản nhưng ông H không yêu cầu định giá lại và xác nhận chỉ chấp nhận mức giá dao động từ 120.000.000 đồng trở xuống. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền 120.000.000 đồng.

Do số tiền 120.000.000 đồng mà ông Q yêu cầu bồi thường cho giá trị xe bị mất thấp hơn mức giá của Hội đồng định giá đưa ra và không yêu cầu tiền lãi nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, ông L là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác nhận ông Đoàn Ngọc Q hiện đang giữ bản chính giấy chứng nhận xe máy Honda Sh150i, số máy KF08E – 1078596, số khung BF – 107177, biển số xe 59P1- 46999 nên ngay sau khi nhận đủ số tiền bồi thường 120.000.000 đồng thì ông Qcó trách nhiệm giao lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 59P1-46999 cho ông Quách Liêm H.

Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

 [2.3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu bồi thường số tiền 120.000.000 đồng nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.

Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 06881 ngày 30/5/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 307, 559, Điều 561, khoản 4 Điều 562 Bộ luật dân sự 2005; Điều 357, điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 2 điều 27 Pháp lệnh 10/20096/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – ông Đoàn Ngọc Q:

Buộc ông Quách Liêm H – Chủ quán cà phê Đ có trách nhiệm bồi thường trị giá xe máy hiệu Honda Sh150i biển số 59P1-46999 bị mất là 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng cho ông Đoàn Ngọc Q.

Ngay sau khi nhận đủ số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng thì ông Đoàn Ngọc Q có trách nhiệm giao lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 59P1-46999 cho ông Quách Liêm H.

Thực hiện ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp ông H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 6.000.000 (sáu triệu) đồng do ôngQuách Liêm H phải chịu.

Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 06881 ngày 30/5/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3/ Về quyền kháng cáo: Ông Đoàn Ngọc Q được quyền kháng cáo, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Quách Liêm H, Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế và Xây dựng Đ, Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Z (tên cũ: Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Q), Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửađổi, bổ sung năm 2014.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/DS-ST ngày 21/02/2019 về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại

Số hiệu:33/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về