Bản án 33/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 33/2019/HS-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2019/TLST-HS ngày 06/6/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L – Sinh năm 1992 Nơi ĐKNKTT: Thôn Â, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn 8, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị H; chồng: Nguyễn Văn T và 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 6/2/2019 Nguyễn Thị L đang ở nhà bà nội là Lê Thị N ở thôn 8, xã M, huyện T thì có Lê Đình V ở thôn 15, xã T, huyện T, Hà ở xã H, huyện T và Nguyễn Công Q (Q) ở xã H đến nhà bà N chơi tết với L. Ngồi chơi một lúc thì Q đưa H về, sau đó có Lê Hồng G (G phố) ở thôn D, xã H, T ở Phố 1, đường Dương Vân N, phường V, thành phố Ninh Bình và Trần Thị H ( vợ S) đến chỗ L chơi. S và H ngồi ở ngoài sân còn G vào trong nhà nơi L đang ngồi. L lấy một ít ma túy đưa cho G, G bỏ vào cóng đã để sẵn trên bàn và sử dụng. G và L vừa sử dụng một lượt thì S vào tự đốt và sử dụng, sử dụng xong thì Q, V ra về , lúc này có Lê Sỹ T ở thôn 4, xã C, huyện N, Phạm Đình M ở xóm 8, xã T, Lê Viết D (cọp triệu) ở thôn 4, xã C, Lê Thị N ở Thôn D, xã H cùng đến nhà bà N, mọi người ngồi ở ngoài sân còn M đi vào trong nhà thấy có ma túy để ở trên bàn nên tự đốt sử dụng. M, S đi ra sân còn Gi, L ngồi tại bàn nói chuyện, đến 16 giờ 40 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện T vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 hộp có kích thước 1,6 x10x8 cm trên mặt kính, tầng thứ 3 kệ tủ bên phải, cạnh nơi L đang ngồi, bên trong có một túi ni lông màu trắng viền đỏ, kích thước 9x6cm bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy đá; 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, kích thước 10x7cm, mặt trước của túi có in chữ “QUEEN BEAUTY”, bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy đá; 01 tú ni lông màu trắng bên trong chứa viên nén màu hồng đỏ nghi là hồng phiến; 01 đoạn ống nhựa màu đen được dán kín hai đầu dài 3cm bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy đá. Tất cả được niêm phong theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp chỗ ở của L thu giữ: 01 ví da màu đen, bên trong có 4.200.000đ; 01 chiếc cân màu bạc đã cũ; 01 bình thủy tinh màu trắng cao 13cm, đường kính thân bình 9cm, 01 chai nhựa màu trắng.

Ngày 7/2/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T có quyết định trưng cầu giám định số 24/CSĐT đối với số vật chứng đã thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số: 545/MT-09 ngày 10/2/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi ni lông màu trắng viền đỏ kích thước (10x7)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,363g loại Methamphetamine.

Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi ni lông màu trắng viền đỏ kích thước 10x7 mặt trước của túi có chữ “Queen Beauty” gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,224g loại Methamphetamine.

Viên nén màu hồng đỏ, trong túi ni lông màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,096g loại Methamphetamine.

Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong đoạn ống nhựa màu đen được bịt kín hai đầu dài khoảng 3cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,219g loại Methamphetamine.

Về nguồn gốc ma túy: L khai số ma túy trên là của B(B) ở thị trấn R, huyện Đ đưa cho L vào trưa ngày 5/2/2019 tại nhà bà nội của L để L sử dụng. Quá trình điều tra B không có mặt tại địa phương, cũng không có tài liệu nào khác chứng minh cho lời khai cả L nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách hành vi của B để điều tra, xử lý sau.

Đi với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị L, Lê Hồng G, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Nguyễn Công Q quá trình điều tra xác định các đối tượng tự đốt và tự sử dụng ma túy, không có sự bàn bạc phân công, bản thân L cũng không gọi điện cho các con nghiện đến nhà mình, các con nghiện cũng không gọi điện cho nhau đến nhà L để sử dụng ma túy. Các đối tượng đều là người nghiện ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Công an huyện T đã xử lý hành chính đối với Lê Hồng G, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Nguyễn Công Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngôi nhà L, G, S, M và Q sử dụng ma túy là nhà của bà Lê Thị N. Bà N không giao nhà cho L quản lý và cũng không biết các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà mình nên không có căn cứ để xử lý.

Tại thời điểm Lê Hồng G và Nguyễn Thị L ngồi nói chuyện trong nhà thì Lê Sỹ T, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Lê Viết D rủ nhau lên nhà Nguyễn Văn H (H ở nhà trên, bà N ở nhà dưới, là chú ruột của L) để chời bài ăn tiền. T, S, M và D đánh tiến lên miền nam theo tỉ lệ 2:4:6, theo đó về nhất được ăn 120.000đ, về nhì mất 20.000đ, về thứ 3 mất 40.000đ, về thứ 4 mất 60.000đ. Đánh được khoảng 30 phút thì bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.060.000đ, 01 bộ bào tú lơ khơ 52 cây đã quan sử dụng, 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh xám, 01 điện thoại di động Mastel A122 màu đen, 01 điện thoại do động BQS -5025 màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Sỹ T 01 ví da bên trong có số tiền 990.000đ, thu giữ của Phạm Đình M số tiền 1.950.000đ.

Quá trình điều tra xác định các đối tượng Lê Sỹ T, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Lê Viết D đánh bạc với tổng số tiền 4.000.000đ, các đối tượng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 BLHS; Nguyễn Văn H có hành vi dùng nhà mình cho các đối tượng đánh bạc nên Công an huyện T phạt vi phạm hành chính đối với T, S, M, D và H.

Đi với số tiền thu giữ chiếu bạc 1.060.000đ, thu giữ của T 990.000đ, của M 1.950.000đ tịch thu sung quỹ Nhà nước, đối với số vật chứng còn lại ( 01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ) tịch thu tiêu hủy.

Đi với 01 ví da, 01 điện thoại di động Nokia 1202 màu xanh xám, 01 điện thoại di động Mastel A122 màu đen, 01 điện thoại di động BQS -5025 màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu.

Vật chứng của vụ án: Chuyển 01 mẫu vật sau giám định được đựng trong một phong bì do Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, số tiền 4.200.000đ, 01 chiếc cân tiểu ly, 01 bình thủy tinh, 01 chai nhựa đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện T bảo quản chờ xử lý.

*Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 04/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

-Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

-Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Hình phạt đối với bị cáo từ 6 đến 7 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 6/2/2019

-Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân tiểu ly, 01 bình thủy tinh, 01 chai nhựa Trả lại cho bị cáo 4.200.000đ, 01 ví da màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội

-Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Khong 16 giờ 40 phút ngày 06/2/2019 tại nhà bà Lê Thị N ở thôn 8, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Công an huyện T đã bắt quả tang Nguyễn Thị L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 11,902g loại Methamphetamine.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thị L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Tuy nhận thức được tính nguy hiểm và biết rõ ma túy có tác hại nghiêm trọng trong đời sống xã hội nhưng vì nghiện ma túy bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ 11,902g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng với mục đích cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý về ma túy của Nhà nước và làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, ma túy còn là tệ nạn xã hội, hủy hoại con người về thể chất, tinh thần và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm các tội phạm liên quan đến ma túy đang diễn biến hết sức phức tạp, Đảng và Nhà nước đang có nhiều biện pháp đấu tranh quyết liệt với loại tội phạm này, do đó cần xử bị cáo mức án tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là lao động duy nhất trong gia đình, có 01 con nhỏ đang sống cùng bà nội già yếu, nên xem xét giảm cho bị cáo 1 phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội 1 thời gian mới đủ giáo dục, cải tạo bị cáo Do bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị L, Lê Hồng G, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Nguyễn Công Q. Quá trình điều tra xác định các đối tượng tự đốt và tự sử dụng ma túy, không có sự bàn bạc phân công, bản thân L cũng không gọi điện cho các con nghiện đến nhà mình, các con nghiện cũng không gọi điện cho nhau đến nhà L để sử dụng ma túy. Các đối tượng đều là người nghiện ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Công an huyện T đã xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với các đối tượng trên phù hợp.

Ngôi nhà L, G, S, M và Q sử dụng ma túy là nhà của bà Lê Thị N. Bà Năm không giao nhà cho L quản lý và cũng không biết các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà mình nên Cơ quan Điều tra không xử lý đối với Năm là phù hợp.

- Đối với hành vi đánh bạc của Lê Sỹ T, Trương Thanh S, Phạm Đình M và Lê Viết D. Quá trình điều tra xác định các đối tượng đánh bạc với tổng số tiền 4.000.000đ, các đối tượng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H có hành vi dùng nhà mình cho các đối tượng đánh bạc nên Công an huyện T phạt vi phạm hành chính đối với T, S, M, D, H và tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 4.000.000đ dùng để đánh bạc là phù hợp.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly, 01 bình thủy tinh, 01 chai nhựa

- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định

- Trả lại cho bị cáo 4.200.000đ, 01 ví da màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố Nguyễn Thị L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị L: 5 năm 6 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/02/2019

* Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly, 01 bình thủy tinh, 01 chai nhựa

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 4.200.000đ, 01 ví da màu đen .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/VC/2019 ngày 10/ 6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T)

- Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:33/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thiệu Hoá - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về