Bản án 33/2019/HSST ngày 16/05/2019 về tội hủy hoại tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 33/2019/HSST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2019, đối với bị cáo

1/Họ tên: Nguyễn Quang C - SN 1984 (Có mặt)

HKTT và chỗ ở: Thôn Sơn Q 5, xã Lương P, H. Hiệp Hòa, T. Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa lớp 12/12.

Con ông: Nguyễn Quang L (đã chết); Con bà: Thân Thị C - sinh năm 1961.

Vợ: Nguyễn Thị T- SN 1984 (Đã ly hôn)

Bị cáo có 02 con, lớn sinh 2007,nhỏ sinh 2010

Tiền sự, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

2/Bị hại: Nguyễn Thị T- SN 1984 (Đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Làng Thị, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

3/Người làm chứng: Chị Trần Thị H- Sn 1972 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Sơn Q 5, xã Lương P, H. Hiệp Hòa, T. Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

1/Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Nguyễn Thị T - SN1984 và bị cáo Nguyễn Quang C đã ly hôn ngày 17/10/2018. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giao chị T nuôi dưỡng con C Nguyễn Quang Tiến, còn C nuôi dưỡng con C Nguyễn Quang Long. Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2018, chị T một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98H1 – 042.65 đến nhà C để thăm và đón cháu Long về nhà chơi nhưng C không muốn cho chị T đón cháu Long đi. Sau đó, chị T kèm cháu Long đến nhà bà Thân Thị C là mẹ đẻ của C chơi. Do bực tức vì chị T đưa con đi chơi nên C điều khiển xe môtô đuổi theo chặn xe của chị T.

Khi gần đến nơi, C đỗ xe và kéo xe môtô BKS 98H1– 042.65 của chị T lại không cho chị T đi làm xe mô tô của chị T bị nghiêng và đổ ra đường, chị T bị ngã theo và bị xe môtô đè vào bàn tay phải làm gãy vát đốt III ngón IV bàn tay phải, cháu Long nhảy ra khỏi xe mô tô. Sau khi bị ngã, chị T đứng dậy bỏ chạy thì bị C đuổi theo dùng tay phải cầm một phần viên gạch ba banh đã vỡ to bằng nắm tay đập hai nhát vào đầu chị T làm chị T bị rách da đầu, chảy máu. Lúc này, người dân đến can ngăn nên chị T bỏ chạy được. Sau đó C lấy điếu thuốc lá từ trong túi quần ra nhúng vào bình xăng chiếc xe môtô để cho xăng ngấm vào điều thuốc lá. Sau đó dùng dây điện cao áp dẫn điện của chiếc xe môtô gí gần vào đầu của bugi xe môtô và đề cho xe nổ để tạo ra tia lửa làm điếu thuốc là bị cháy rồi bỏ điều thuốc lá đang cháy vào phần yên chiếc xe mô tô của chị T làm chiếc xe môtô bị cháy hoàn toàn. Sau khi đốt xe xong C bỏ về, chị T được đưa đến Trạm y tế xã Lương P sơ cứu với vết thương vùng chẩm trái kích thước 04x0,2cm và 01 vết thương vùng chẩm phải kích thước 06x0,2cm, bờ mép vết thương dập nát. Sau khi sự việc xảy ra, chị T đã có đơn trình báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Tại kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, số khung: 635281, số máy: 635333, biển BKS 98H1 – 042.65 (tài sản đã qua sử dụng) có giá là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Tại kết luận giám định số 8690/19/TgT ngày 11/02/2019 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Thương tích vết sẹo chẩm trái: 2%, thương tích vết sẹo chẩm phải: 1%, thương tích chạm thương đốt 3 ngón IV bàn tay phải + X- quang: Gãy vát đốt III ngón IV bàn tay phải: 1%. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT – BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 4% (Bốn phần trăm).

Về cơ chế gây thương tích: Các thương tích do vật cứng gây nên. Viên gạch bằng đá ba banh gây được thương tích ở vùng đầu chị T.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quang C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên .

Về trách nhiệm dân sự, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu C bồi thường thiệt hại về tài sản và thương tích, chị T chỉ đề nghị xử lý nghiêm đối với Nguyễn Quang C theo quy định của pháp luật .Tuy nhiên ngày 02/5/2019, chị T viết đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo về cả 02 tội danh, không yêu cầu bồi thường.

2/Cáo trạng số 33/CT-VKS-HH ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Quang C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản1- Điều 134 và tội"Hủy hoại tài sản"theo khoản 1, điều 178- Bộ luật hình sự.

3/Tại phiên tòa,bị cáo Nguyễn Quang C thừa nhận toàn bộ nội dung của Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng diễn biến hành vi phạm tội, đúng quy định pháp luật, không oan. Bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2018, chị T đưa con đi chơi khi C chưa đồng ý nên C điều khiển xe môtô đuổi theo chặn xe của chị T. C đỗ xe và kéo xe môtô BKS 98H1-042.65 của chị T lại không cho chị T đi làm xe mô tô của chị T bị nghiêng và đổ ra đường, chị T bị ngã theo và bị xe môtô đè vào người; sau đó chị T bỏ chạy thì C đuổi theo dùng tay phải cầm một phần viên gạch xi măng đã vỡ to bằng nắm tay đập hai nhát vào đầu chị T làm chị T bị rách da đầu, chảy máu. Lúc này, người dân đến can ngăn nên chị T bỏ chạy được. Sau đó C lấy điếu thuốc lá nhúng xăng, châm lửa đốt cháy chiếc xe mô tô của chị T. Bị cáo thừa nhận chiếc xe là tài sản của chị T.

Bị cáo không có ý kiến gì với Kết luận giám định pháp y về tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị T là 4 % và Kết luận định giá tài sản xe mô tô nhãn hiệuYAMAHA là 10.000.000 đồng. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đã gây thương tích đối với chị T là sai và giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện Hiệp Hòa, đồng thời bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh phạm tội của bị cáo.

3.1 /Người bị hại là chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra trình bày: Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2018, chị T đưa con đi chơi thì C điều khiển xe môtô đuổi theo chặn xe của chị T và kéo xe môtô BKS 98H1– 042.65 của chị T lại không cho chị T đi làm xe mô tô của chị T bị nghiêng và đổ ra đường, chị T bị ngã theo và bị xe môtô đè vào bàn tay phải làm gãy vát đốt III ngón IV bàn tay phải. Chị T bỏ chạy thì bị C đuổi theo dùng tay cầm một phần viên gạch ba banh đập hai nhát vào đầu chị T làm chị T bị rách da đầu, chảy máu. Lúc này, người dân đến can ngăn nên chị T bỏ chạy được. Sau đó C châm lửa cháy chiếc xe môtô của chị T bỏ lại bị cháy hoàn toàn. Ngày 02/5/2019, chị T viết đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo về cả 02 tội danh, không yêu cầu bồi thường

3.2/Người làm chứng là chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra trình bày: Chị H chứng kiến sự việc trên, khi C dùng gạnh đánh chị T thì mọi người can ngăn nên chị T chạy được thì C dùng thuốc lá châm lửa đốt xe chị T cháy. Sau đó chị H đưa chị T về nhà chị H cấp cứu.

3.3/Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ và hậu Q của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố, đã luận tội và đề nghị kết tội: Do bị hại rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo về tội danh“ Cố ý gây thương tích” nên ngày 03/5/2019 Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ xét xử bị cáo về tội danh “ Cố ý gây thương tích” là đúng quy định pháp luật; đề nghị tiếp tục xét xử bị cáo C về tội danh “ Hủy hoại tài sản ”.

Xuất phát từ việc bị cáo không đồng ý cho chị T đón con đi chơi nên bị cáo C đã dùng thuốc lá đốt xe của chị T, trị giá xe 10.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm C.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đồng thời có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và bị hại rút yêu cầu khởi tố. Do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm,i và s, khoản 1và khoản 2, Điều 51 -Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang C phạm tội"Hủy hoại tài sản"; áp dụng khoản 1, điều 178, điểm i, s, khoản 1,khoản 2, điều 51, điều 38 - Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo C từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Kng phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự: chiếc xe mô tô không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy .

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .

4/Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1/Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Ngày 02/5/2019, chị T viết đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo về tội danh “Cố ý gây thương tích” nên ngày 03/5/2019 Tòa án đã ban hành Quyết định số 01/2019/HSST-QĐ, đình chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Quang C về tội danh “Cố ý gây thương tích”.

2/Lời khai nhận tội của bị cáo C tại phiên tòa hôm nay là tự nguyện và thành khẩn; phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ việc không đồng ý cho chị T đón con C đi chơi nhà mẹ ruột C nên khoảng 08 giờ ngày 08/12/2018, bị cáo Nguyễn Quang C kéo xe môtô BKS 98H1– 042.65 của chị T lại không cho chị T đi làm xe mô tô của chị T bị đổ ra đường, chị T bị ngã theo và bị xe môtô đè vào bàn tay phải làm gãy vát đốt III ngón IV bàn tay phải ; C dùng một phần viên gạch ba banh đã vỡ đập hai nhát vào đầu chị T làm chị T bị rách da đầu, chảy máu, tỷ lệ tổn thương cơ thể tổng cộng là 4% (Bốn phần trăm). Sau đó C dùng thuốc lá cháy châm đốt, hủy hoại chiếc xe môtô của chị T bị cháy hoàn toàn phần nhựa và dây điện, trị giá xe là 10.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Xuất phát từ việc chị T đón con C đi chơi, bị cáo đã dùng viên gạch xi măng vỡ đập vào đầu chị T, đồng thời châm lửa đốt cháy chiếc xe của chị T ; hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ hung hãn, vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất và hậu Q hành vi phạm tội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm C.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có tính côn đồ nên áp dụng tình tiết quy định tại điểm d, khoản 1, điều 52- Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn và bị hại rút yêu cầu khởi tố. Do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 -Bộ luật hình sự.

Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Về vật chứng: Trả lại chị T xe mô tô vật chứng của vụ án; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm P của Công an xã Lương P.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1/Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang C phạm tội"Hủy hoại tài sản".

2/Áp dụng khoản 1, điều 178, điểm i, s, khoản 1,khoản 2, điều 51, điều 38 - Bộ luật hình sự, các điều 292, 293 và 331, 334 -Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang C 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47- Bộ luật hình sự, điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại chị T xe mô tô BKS 98H1-042.65 cháy hoàn toàn phần nhựa và dây điện; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm P của Công an xã Lương P vật chứng của vụ án.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.


12
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về