Bản án 33/2019/HSST ngày 19/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 33/2019/HSST NGÀY 19/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2019/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn H, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Trần Văn H1; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Phù L, xã Phù L, huyện Quế V, tỉnh Bắc N; Nghề ngH: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Trần Văn H2 (đã chết) và con bà Trần Thị S (đã chết); Vợ: Phạm Thị Th, sinh năm 1978; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2012.

- Tiền án: Bản án số 104 ngày 25/9/2015, của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2017; Tiền sự: không;

- Nhân thân:

+ Bản án số 07/HSST ngày 29/11/1999 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xử phạt 4 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 1, Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Chấp hành án xong ngày 21/12/1999.

+ Bản án số 30/HSST ngày 18/4/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 7 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS năm 1999. Chấp hành án xong ngày 30/9/2007.

+ Bản án số 20/2019/HSST ngày 29/3/2019, TAND huyện Gia Bình xử 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam theo lệnh tạm giam của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Gia Bình.

2. Lê Quang P, sinh năm 1988; HKTT: Thôn Văn P, xã Châu Ph, huyện Quế V, tỉnh Bắc N; Nghề ngiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Quang Kh, sinh năm 1963 và con bà Đỗ Thị L, sinh năm 1963; Vợ: Hứa Thị Th, sinh năm 1992; Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Bản án số 22/HSST ngày 25/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em” theo điểm a, khoản 2, Điều 115 BLHS năm 1999. Bị cáo được đặc xá ra tù ngày 31/8/2011.

+ Bản án số 82/HSST ngày 27/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 248 BLHS năm 1999. Chấp hành án xong ngày 10/5/2015.

+ Ngày 26/11/2009, Công an huyện Quế Võ xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1958

Địa chỉ: Thôn Phù L, xã Phù L, huyện Quế V, tỉnh Bắc N (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn X, sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn Cựu T, xã Ngọc X, huyện Quế V, tỉnh Bắc N (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn H (tên gọi khác: Trần Văn H1) và Lê Quang P là bạn bè quen biết nhau từ trước.

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24/9/2018, P mượn xe mô tô Angle Hi màu xanh BKS: 99H1-3249 của anh Lê Quang H - sinh năm 1975 ở thôn Văn Phong, xã Châu Phong, huyện Quế Võ sang nhà H chơi. H rủ P đi loanh quanh chơi, P đồng ý và lấy xe mô tô chở H, khi đi đến cổng nhà ông Nguyễn Văn Th thấy cửa cổng không khóa, nhìn xung quanh không thấy có ai, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ P vào nhà ông Th trộm cắp, P đồng ý.

P điều khiển xe mô tô vào khu vực cổng nhà ông Th, H đi vào nhìn qua khe cửa nhà ông Th thấy bên trong nhà có để bàn, ghế inox sử dụng trong đám cưới thì gọi P vào. Sau đó, H và P đi vòng ra cửa sổ phía sau của ngôi nhà. H mở cửa sổ, bẻ gãy 4 chấn song cửa sổ bằng gỗ rồi chui vào bên trong nhà, P ở bên ngoài cảnh giới. H lấy 01 bao tải dứa màu xanh ở bên trong nhà đưa cho P rồi xếp 36 chiếc ghế inox Th 3 chồng đưa ra cho P, sau đó chui ra ngoài theo lối đã vào.

P lấy ghế đút vào trong bao tải, sau đó cả hai khiêng bao tải ra chỗ để xe mô tô. H ngồi phía sau giữ bao tải, còn P điều khiển xe mô tô đi lên cửa hàng mua bán sắt vụn của chị Vũ Thị Th - sinh năm 1980 ở thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ. H1 vào bán số ghế trên cho chị Th được 600.000 đồng. Số tiền trên, cả hai chia nhau mỗi người 300.000 đồng và ăn tiêu hết.

Ngày 08/10/2018, ông Nguyễn Văn Th có đơn trình báo gửi Công an huyện Quế Võ về việc bị mất tài sản.

Ngày 15/10/2018, Trần Văn H và Lê Quang P đã đến Công an huyện Quế Võ tự thú về hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL ngày 08/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “Theo quy định khấu hao tài sản 01 chiếc ghế inox được mua mới vào tháng 2/2018 đến thời điểm mất còn trị giá 92,71%, tương đương với số tiền 97.345 đồng. Vậy 36 chiếc ghế inox tại thời điểm mất có trị giá 3.504.420 đồng” .

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ, Trần Văn H và Lê Quang P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSQV ngày 14/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố Trần Văn H và Lê Quang P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (tức Trần Văn H1) và Lê Quang P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Văn H từ 13 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Lê Quang P từ 10 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc các bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn Th 3.504.420 đồng. Xác nhận Lê Quang P đã nộp 3.500.000 đồng tại biên lai số ngày 0005595 ngày 11/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Khoảng 11 giờ, ngày 24/9/2018, Trần Văn H và Lê Quang P đã có hành vi trộm cắp 36 chiếc ghế inox trị giá 3.504.420 đồng của gia đình ông Nguyễn Văn Th ở thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, tài sản chưa được thu hồi.

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ, tại liệu khác. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn H và Lê Quang P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, của cơ quan tổ chức được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp với tổng giá trị tài sản là 3.504.420đồng. Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi. Do vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất vụ án, vai trò nhân thân của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vì giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cho nhau. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm, vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo không có yếu tố tổ chức.

Trong vụ án này, Trần Văn H giữ vai trò chính, trực tiếp thực hiện tội phạm, là người khởi xướng, lôi kéo P cùng phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu: năm 1999 bị xử phạt 4 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; năm 2002 bị xử phạt 7 năm tù về tội “Cướp tài sản”; bị cáo có một tiền án: ngày 25/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2017, bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo trở Th người lương thiện.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến Công an huyện Quế Võ tự thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo nhưng áp dụng mức hình phạt cao hơn P là phù hợp.

Đối với bản án số 20/2019/HSST ngày 29/3/2019, 2015 Tòa án nhân dân huyện huyện Gia Bình xử phạt Trần Văn H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt trong bản án này.

Bị cáo Lê Quang P đóng vai trò sau bị cáo H nhưng thực hiện tội phạm cùng H một cách tích cực. Bị cáo có nhân thân xấu: năm 2009 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; năm 2010 bị xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”; năm 2014 xử phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành án xong ngày 10/5/2015 nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân, mà sau khi ra tù lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo trở Th công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến Công an huyện Quế Võ tự thú; đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm r và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

- Trách nhiệm dân sự: 36 chiếc ghế inoc trị giá là 3.504.420 đồng chưa thu hồi được nhưng do bị cáo P đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại, người bị hại đồng ý với mức bồi thường 3.500.000đồng, bị cáo P không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường nên chấp nhận sự tự nguyện này của bị cáo P và người bị hại. Xác nhận bị cáo P đã nộp 3.500.000đồng (do anh Đỗ Văn X nộp hộ) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.

Chiếc xe mô tô AngleHi màu xanh BKS 99H1-3249 (là P tiện H và P sử dụng trong quá trình trộm cắp tài sản), Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ xác minh là của anh Lê Quang H cho P mượn ngày 24/9/2018. Anh H không biết P sử dụng làm P tiện để đi trộm cắp tài sản nên không thu giữ xử lý là phù hợp.

Chiếc bao tải dứa màu xanh H và P lấy trong nhà ông Th để đựng 36 chiếc ghế inox trộm cắp ngày 24/9/2018, P và H để đâu không nhớ, nay không thu hồi được.

Chiếc bao tải dứa màu xanh và 04 chiếc chấn song bằng gỗ đã cũ, hỏng không còn giá trị, ông Th không yêu cầu đề nghị bồi thường.

Đối với chị Vũ Thị Th là người đã mua 36 chiếc ghế inox do P và H bán ngày 24/9/2018 (theo lời khai của H và P). Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa Th và H. Tuy nhiên chị Th không thừa nhận đã mua 36 chiếc ghế inox do H bán nên tiếp tục điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Các bị cáo phải cH án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (tức Trần Văn H1) và Lê Quang P phạm tội “Trộm cắp tài sản"

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Quang P 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự; Bị cáo Lê Quang P phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn Th 3.504.420 đồng. Xác nhận Lê Quang P đã nộp 3.500.000đồng tại biên lai số ngày 0005595 ngày 11/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

- Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trần Văn H (tức Trần Văn H1), Lê Quang P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/HSST ngày 19/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:33/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về