Bản án 335/2017/HSPT về tội cố ý gây thương tích

BẢN ÁN 335/2017/HSPT NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Ngày 14/11/2017,  tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2017/HSPT ngày 04/10/2017 đối với bị cáo Y D Niê về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 53/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Toà án nhân dân huyên Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Y D Niê, sinh năm 1993, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn E, xã K, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Buôn KB, xã Y, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Ê đê; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Y G Byă và con bà H’N Niê, hiện đang cư trú tại buôn E, xã K, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ là H’K Niê và có 01 con sinh năm 2013, hiện đang cư trú tại buôn K B xã Y, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2017, hiện đang giam; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của gia đình bị cáo: Luật sư Lê Xuân Anh Phú – Công ty luật THHH MTV T; có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị:

Người bị hại: Anh Y L Mlô, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Buôn S, xã Đ, huyện R, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 10/01/2017, Y Bi Mlô trú tại buôn S, xã Đ, huyện R đến nhà Y D Niê ở buôn K B, xã Y, huyện P để tìm gặp và nói chuyện với chị H’T Niê (Là vợ Y B và là chị vợ của Y D đang  sống ở nhà Y D). H’T không muốn nói chuyện và đuổi Y Bvề nhưng Y B không về. H’T lấy nước hắt vào người và dùng cây đuổi đánh vào tay Y B rồi H’T vào nhà đóng cửa lại. Y B kéo cửa đòi vào nhà, nhưng bị Y D dùng chân đạp Y B ra khỏi nhà. Y B bỏ về nhà Y Đ (Em trai) ở gần đó gặp Y Đ và Y L (Em trai) trú tại buôn S, xã Đ, huyện R kể lại sự việc vừa xảy ra. Khoảng 21 giờ Y Đ và Y B đến nhà Y D thấy nhà đóng cửa, Y Đ và Y B đứng ngoài chửi và nhặt khúc cây ném vào nhà Y D thì Y D đi ra chửi lại. Nghe ồn ào bên nhà Y D, Y L đi sang. Lúc này, Y B cầm một khúc cây đòi đánh nhau với Y D. Thấy vậy, Y D cầm 01 khúc cây gỗ tròn dài 67cm, đường kính 04cm xông ra đuổi đánh Y B. Y B bỏ chạy, thấy Y L nên Y D dùng khúc cây đánh 01 cái vào đầu Y L làm khúc cây bị gãy. Hậu quả làm Y L bị thương tích đưa đi Bênh viện điều trị.

Tại bản kết luận Pháp y thương tích số 362/PY-TgT ngày 09 tháng 3 năm 2017 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Y L Mlô bị chấn thương sọ não, tụ máu nội sọ, yếu ½ người phải, tỷ lệ thương tích 36%, vật tác động cứng tày.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Toà án nhân dân huyên Krông Pắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Y D Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41 của Quốc hội khóa 14, ngày 20 tháng 6 năm 2017; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: bị cáo Y D Niê 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27 tháng 3 năm 2017.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2017, bị cáo Y D Niê có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Y D Niê đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khẳng định bản án hình sự sơ thẩm số 53/2017/HSST ngày 25/11/2017, của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo Y D Niê về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là thỏa đáng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thêm cho người bị hại nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P 3.000.000 đồng và cung cấp sổ hộ nghèo, đây là tình tiết giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự mới, nên cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt; căn cứ khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Y D Niê 05 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Do bị cáo có sổ hộ nghèo nên bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Y D Niê về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ pháp lý, đúng pháp luật. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là bị cáo phạm tội “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là không thuyết phục. Vì vụ án xảy ra tại nhà bị cáo, vào thời điểm bị cáo cùng gia đình bị cáo đang ngủ và do ba anh em ruột của người bị hại đến nhà bị cáo chửi bới, đe dọa, dùng cây gậy ném vào nhà bị cáo làm cho bị cáo bức xúc không kiềm chế được hành vi của bản thân nên đã dùng cây gậy gây thương tích cho người bị hại. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” và không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng phạm tội “Có tính chất côn đồ” cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mà pháp luật quy định.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên và Luật sư đối đáp tranh luận với nhau và đều giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, kết quả giám định pháp y thương tích và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 10/01/2017, tại nhà bị cáo Y D Niê ở buôn K B, xã Y, huyện P. Mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh Y L Mlô nhưng bị cáo Y D Niê đã dùng 01 khúc cây gỗ tròn đánh 01 cái vào đầu anh Y L, gây thương tích 36% sức khỏe. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Y D Niê về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung tăng nặng là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thì thấy: Mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Y D là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thêm 3.000.000 đồng và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có sổ hộ nghèo, đây là tình tiết giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự mới. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Y D Niê thuộc diện hộ nghèo nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thượng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 2.400.785 đồng. Do vậy, nên sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Y D Niê không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp  nhận  kháng  cáo  của  bị  cáo  Y  D  Niê  –  Sửa  bản  án  sơ  thẩm  số 53/2017/HSST ngày  25/8/2017 của Toà án nhân dân huyên Krông Pắk     về phần hình phạt và án phí.

Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Y D Niê 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/3/2017.

[2] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Y D Niê và bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


101
  • Tên bản án:
    Bản án 335/2017/HSPT về tội cố ý gây thương tích
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    335/2017/HSPT
  • Cấp xét xử:
    Phúc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    14/11/2017
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về