Bản án 33/HNGĐ-ST ngày 14/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 33/HNGĐ-ST NGÀY 14/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 14 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 321/2017/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2017 về Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018 và quyết định Hoãn phiên tòa số 18 ngày 27 tháng 04 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tống Thị Hồng D, sinh năm 1996

Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Thừa Thiên Huế (Có đơn xin xử vắng mặt )

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Long A, sinh năm 1979  ( Vắng mặt lần 2 )

Địa chỉ: thôn H 1, xã L, huyện T, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn chị Tống Thị Hồng D trình bày:  Chị và anh Hoàng Văn Long A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã  L, huyện T, tỉnh Thái Bình, sau khi cưới vợ chồng chung sống và làm ăn tại địa phương. Vợ chồng sống vui vẻ được 03 đến 04 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, anh A thường hay đánh đập chị, thời gian mang thai chị gặp nhiều áp lực nên chị đã xin về nhà bố mẹ đẻ ở thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Thừa Thiên Huế để nhờ cậy sinh sống. Sau khi sinh con chị báo tin cho anh A nhưng anh A không trả lời, 03 tháng sau anh A mới vào gặp mẹ con chị nhưng chứng nào tật đấy anh vẫn đánh đập chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, có chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Long A

Về con chung: Chị và anh A có một 01 chung là Hoàng Thị Diễm M, sinh ngày 10/6/2015. Hiện con chung đang ở với chị, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Về tài sản chung : Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn Long A không đến làm việc, bố đẻ của anh A là ông Hoàng Ngọc K xác nhận anh A đã biết Tòa án giải quyết vụ án, nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do anh đi làm ăn không đến Tòa án làm việc và anh cũng không có ý kiến gì về việc chị D làm đơn xin ly hôn anh.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử và nghị án đều đúng quy định của pháp luật, việc bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị Tống Thị Hồng D được ly hôn anh Hoàng Văn Long A. Về con chung : Giao con chung Hoàng Thị Diễm M cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung : Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn là chị Tống Thị Hồng D vẫn giữ nguyên yêu cầu trên, không thay đổi bổ sung gì. Còn bị đơn là anh Hoàng Văn Long A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt không đến tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh A vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2, chị D có đơn xin xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sựtiến hành xét xử vắng mặt anh A và chị D

Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tống Thị Hồng D và anh Hoàng Văn Long A kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Nhưng khi về chung sống với nhau mới được một thời gian rất ngắn đã phát sinh mâu thuẫn nên khi chung sống cùng nhau đã không có tiếng nói chung và nhanh chóng không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế chị D và anh A đã sống ly thân gần 02 năm nay, vợ chồng mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

[2]. Về con chung: Chị D và anh A có 01 chung là Hoàng Thị Diễm M, sinh ngày 10/6/2015. Hiện nay con chung đang ở với chị D. Chị D đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Xét yêu cầu của chị D là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện nên cần chấp nhận; vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yên cầu.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung : Do đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Tống Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về Án phí, Lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tống Thị Hồng D được ly hôn anh Hoàng Văn Long A.

2.Về con chung: Giao  con  chung  Hoàng Thị  Diễm M, sinh ngày 10/6/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận chị D  không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung; anh A có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản; vấn đề thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung:  Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Tống Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số 000127 ngày 12/12/2017 tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, chị D đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo bản án : Chị Tống Thị Hồng D và anh Hoàng Văn Long A vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Thái Bình


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/HNGĐ-ST ngày 14/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:33/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về