Bản án 34/2017/HNGĐ-ST ngày 04/08/2017 về việc tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 34/2017/HNGĐ-ST NGÀY 04/08/2017 VỀ VIỆC TRANH CHẤP LY HÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền. Các Hội thẩm nhân dân:  1. Bà Trần Thị Mộng Thu;

2. Bà Huỳnh Thị Lượng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa:Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên tiến

hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 277/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2017 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 thang 7 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1991; nơi thường trú: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; tạm trú: Nhà trọ D thuôc Ấp 2, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm 1989; nơi thường trú: Xóm 2, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Nhà trọ D thuộc Ấp 2, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tai đơn khởi kiên ngay 21 thang 6 năm 2017 và trong quá trinh giai quyêt vu án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn L chung sống vơi nhau trên cơ sơ tìm hiểu tự nguyện, đươc hai bên gia đinh tổ chức đám cưới theo phong tuc, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 37.2011, Quyển số 01 ngày 21/12/2011. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng về quan điểm sống, không cảm thông, chia sẻ, yêu thương nhau. Bà D cũng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai bên gia đình cũng khuyên giai nhiều lần nhưng bà D và ông L vẫn không hòa hợp được. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau va từ năm 2016 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Nhân thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị D yêu cầu được ly hôn với ông Dương Văn L.

+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Thị Lê N, sinh ngày 31/5/2012. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Thị Lê N, không yêu cầu ông Dương Văn L cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà Nguyễn Thị D tự nguyện không

yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tại bản tự khai ngày 13 tháng 7 năm 2017 ông Dương Văn L trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Văn L thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị D về thời gian tìm hiểu, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo ông L là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vợ chồng đa ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Ông L đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà D không đồng ý. Nhân thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Dương Văn L đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị D.

+ Về con chung: Ông L thống nhất vợ chồng có 01 con chung như bà D trình bày. Khi ly hôn ông L đồng ý giao con chung tên Dương Thị Lê N cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và vay nợ chung: Ông Dương Văn L tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên ông L có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:

- Về thu tuc tố tung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xet thấy mâu thuân vơ chồng đa trầm trong, muc đich hôn nhân không đat được. Đề nghị Hội đồng xet xư chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, cụ thể như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhân cho bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Dương Văn L.

+ Về con chung: Do bà Nguyễn Thị D hiện đang nuôi dưỡng con chung tên Dương Thị Lê N và ông L cũng đồng ý giao cháu Lê N cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự giao con chung cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

+ Vấn đề tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về thủ tục tố tụng:

 [1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thị xã Tân Uyên và nguyên đơn đề nghị TAND thị xã Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 va 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

 [1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Dương Văn L vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghi xet xư vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Dương Văn L.

[2] Về nội dung vụ án:

 [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn L là những người đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 37.2011, Quyển số 01 ngày 21/12/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vơ chồng thường xuyên xay ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn la do bất đồng về quan điểm sống, không cảm thông, chia sẻ, yêu thương nhau. Hiện tại vơ chồng không con chung sống vơi nhau, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Tại các văn bản trình bày ý kiến, bị đơn ông Dương Văn L cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân; nhân thấy mâu thuân vơ chồng đa trầm trong, muc đích hôn nhân không đat được nên ông L đồng ý ly hôn vơi ba D.

Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 17 và 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Đối chiếu với quy định nêu trên thì việc chung sống giữa bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Thị Lê N, sinh ngày 31/5/2012. Hiện nay con chung đang sống với bà D. Ông L cũng đồng ý giao con chung tên Dương Thị Lê N cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy ý kiến của các đương sự là tự nguyện, phù hợp quy đinh tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Thị Lê N.

 [2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

 [2.4] Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nênHội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [3] Về án phí: Căn cứ vào Điểm a Khoản 5 Điều 27  Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị D phải nộp an phi Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cư vao Điều 26, 35, 39, 92 va 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cư vao Điều 17, 19, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-    Căn    cư    vào    Điểm   a    Khoản    5    Điều    27    Nghị    quyết số  326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D về việc: Tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Dương Văn L.

2. Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Dương Văn L.

3.  Về  con  chung:  Giao  con  chung  tên  Dương  Thị  Lê  N,  sinh  ngày 31/5/2012 cho bà Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng.

4. Về viêc cấp dương nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn L đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

5. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

6. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013078 ngày 29/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, bà Nguyễn Thị D không phải nộp thêm.

7. Về quyền kháng cáo:

7.1. Bà Nguyễn Thị D có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

7.2. Ông Dương Văn L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đươc ban an hoặc niêm yết bản án.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2017/HNGĐ-ST ngày 04/08/2017 về việc tranh chấp ly hôn

Số hiệu:34/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/01/1901
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về