Bản án 34/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 34/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2017/HSST, ngày 11/8/2017 đối với các bị cáo:

1. Siu N sinh năm 1994 tại huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Tai Pêr, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: làm nông; dân tộc Jarai; trình độ văn hóa: không biết chữ.

Con ông Rmah L (đã chết) và bà Siu H’M sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: 01; Ngày 22/02/2017 Bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 tháng 23 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: không. Bị bắt, tạm giữ ngày 25/5/2017; tạm giam ngày 31/5/2017. có mặt.

2. Rơ Mah S  sinh ngày 11/01/2001 tại huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Tai Pêr, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnhGia Lai.

Nghề nghiệp: làm nông; dân tộc Jarai; trình độ văn hóa: 04/12

Con ông Siu A sinh năm 1969 và bà Rơ Mah H’G sinh năm 1968

Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. có mặt.

3. Kpuih E sinh năm 2000 tại huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia

Nghề nghiệp: làm nông; dân tộc Jarai; trình độ văn hóa: 01/12 Con ông Siu K sinh năm 1979 và bà  Kpuih H’K sinh năm 1980; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lưu Đình Q – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

1. Ông Siu A sinh năm 1969 và bà Rơ Mah H’G sinh năm 1968; Trú tại Thôn Tai Pêr, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai (cha mẹ đẻ của bị cáo Rơ Mah S). Có mặt

2. Ông Siu K sinh năm 1979 và bà  Kpuih H’K sinh năm 1980; Trú tại Thôn Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai (cha mẹ đẻ của bị cáo Kpuih E). Có mặt

* Người bị hại:

Kpuih H’P  sinh năm 1943; trú tại: Làng  Tong Ket, xã IaHla, huyện Chư Pưh,  tỉnhGia Lai. Có mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:1. Siu B, sinh năm 2002; Người đại diện hợp pháp anh Rah Lan S sinh năm 1980 và chị Siu H’H sinh năm 1979 (là cha mẹ đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

2. Rơ Lan M, sinh ngày 01/01/2004; Người đại diện hợp pháp anh Rơ Lan Y  sinh năm 1984 và chị Rơ Lan H’B sinh năm 1988 (là cha mẹ đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

3. Kpuih H, sinh ngày 21/8/ 2003; Người đại diện hợp pháp anh Rah Lan Đ sinhnăm 1975 và chị Kpuih H’H sinh năm 1979 (là cha mẹ đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

4. Siu V, sinh ngày 10/10/2004; Người đại diện hợp pháp ông Kpuih B và chị SiuH’T (là cha mẹ đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

5. Rơ Mah T, sinh năm 2001; Người đại diện hợp pháp ông Siu P sinh năm 1962 và bà Rơ Mah B sinh năm 1961 (là cha mẹ đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

6. Siu T, sinh năm 2000; Người đại diện hợp pháp ông Rah Lan H sinh năm 1960 và bà Siu H’i sinh năm 1964 (là cha mẹ đẻ); trú tại: Thôn Tai Pêr, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

7. Rơ Mah T, sinh ngày 01/12/2001; Người đại diện hợp pháp ông Siu J (là cha đẻ); trú tại: Thôn Sur A, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

8. Lpuih Y, sinh năm 2002; Người đại diện hợp pháp ông Siu K (là cha  đẻ); trú tại: Làng Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người phiên dịch:

Anh Nay Đức L, Cán bộ phòng Tư Pháp huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai (dân tộc Jarai). Có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Siu N và đồng phạm bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, tại thôn Hra, xã IaHla, Siu N gặp Rơ Mah S, Rơ Mah T, Siu B và Kpuih H thì N nói với S “mày có đi trộm bò với tao không”. Nghe N nói vậy thì tất cả đồng ý. B điều khiển xe môtô chở N và H; S chở Rơ Mah T cùng đi đến làng Tong Ket, xã IaHla thì H và T sợ người dân phát hiện nên cả hai đi về. Lúc này còn lại N, S, B đi bộ vào trong làng Tong Ket tìm bò để trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 24/5/2017 thì N, S, B thấy chuồng bò phía sau nhà bà Kpuih H’P có 01 con bò đang cột trong chuồng. N đi vào dùng dao cắt dây thừng dắt bò ra ngoài, còn S, B đứng ngoài cảnh giới. Khi thấy N dắt bò ra thì S, B cùng lùa bò vừa trộm cắp được đến cất giấu phía sau khu nhà mồ thuộc thôn Hra, xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Sau đó, N, S và B đi vào làng Hra tìm dụng cụ để mổ thịt và có rủ thêm Kpuih E, Siu V, Rơ Lan M và Rơ Mah T cùng đi thịt con bò vừa trộm cắp được thì tất cả đồng ý. N cầm theo một đoạn cây gỗ còn E cầm theo một con dao rựa, một con dao thái thịt và 01 cái bao tải (bao xác rắn) rồi cả nhóm đi đến nơi N, S, B đang cất giấu con bò đã trộm cắp. M cầm đèn pin soi cho N, B, E, V, M và T  dùng cây gỗ và dao mổ thịt con bò  lấy 04 (bốn) chân và đùi bò bỏ vào bao (bao xác rắn). Sau đó, B, V và T đem 03 cái chân và đùi bò đi cất giấu, còn 01 cái đem về khu đất trống sau nhà dì của E ăn nhậu. Trong lúc cả nhóm ngồi nhậu thì M thấy H và Siu T nên gọi vào nhậu cùng.

Khoảng 06 giờ ngày 24/5/2017, bà Kpuih H’P phát hiện mất bò nên làm đơn trình báo. Cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, tiến hành điều tra, xác minh và mời các đối tượng nghi vấn nêu trên đến làm việc thì các đối tượng đã khai  nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 27/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chư Pưh kết luận: 01 con bò cái trọng lượng 110kg có giá là 13.519.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm mười chín ngàn đồng).

* Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại với số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và 01 con heo có trọng lượng 50kg. Sau khi nhận tiền và con heo, bà Kpuih H’P không có yêu cầu gì thêm.

* Về vật chứng vụ án:

- Phần thân con bò cái (không có đùi và chân) lông màu vàng nhạt, 03 đùi bò và chân qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Kpuih H’ P nên CQĐT đã trao trả số tài sản trên cho bà Kpuih H’P.

- 01 cây gậy gỗ dài 1,2m, đường kính 5cm; 01 con dao rựa dài 60 cm; 01 con dao thái thịt dài 30cm đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pưh quản lý.

- Riêng con dao N dùng để cắt dây thừng cột bò, bị can vất ở đâu không nhớ nên không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 26/CTr-VKS ngày 10/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Siu N, Rơ Mah S về tội “Trộm cắp tài sảntheo khoản 1 Điều 138; bị cáo Kpuih E về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Siu N, Rơ Mah S về tội “Trộm cắp tài sản” ; bị cáo Kpuih E về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Siu N từ 09 đến 12 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 và 2 Điều 46; Điều 53; khoản 1 và 2 Điều 60; Điều 69; khoản 4 Điều 71; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Rơ Mah S từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đén 18 tháng;

Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm b, h, p khoản 1 và 2 Điều 46; khoản 1 và 2 Điều 60; Điều 69; khoản 4 Điều 71; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Kpuih E từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đén 18 tháng.

Người bào chữa cho các bị cáo thống nhất với tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Siu N, Rơ Mah S, Kpuih E đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng.

Hội đồng xét xử xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với những chứng cứ, kết luận định giá tài sản, tài liệu thu thập được tại hồ sơ vụ án và lời khai của những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 23/5/2017, Siu N rủ Rơ Mah S, Rơ Mah T, Siu B, Kpuih H đi trộm cắp bò làm thịt ăn thì được tất cả đồng ý. Khi đến nơi vì sợ nên H và T bỏ về; còn lại N đi vào chuồng bò của bà Kpuih H’P, dùng dao cắt dây thừng dắt bò ra ngoài, còn B và S ở ngoài cảnh giới. Rồi cả ba cùng lùa bò đi cất giấu sau khu nhà mồ thuộc làng Hra, xã IaHla. Sau đó cả ba đi tìm dụng cụ để mổ thịt bò thì gặp Kpuih E, Siu V, Rơ Lan M,  Rơ Mah T đồng thời nói rõ vừa trộm cáp được 01 con bò và rủ đi làm thịt ăn nhậu thì được tất cả đồng ý. Hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 13.519.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm mười chín ngàn đồng) của Siu N, Rơ Manh S đủ định lượng cấu thành cơ bản về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo Kpuih E không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản biết rõ do người khác phạm tội mà có đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố là đúng người, đúng tội.

Đối với Siu B cùng thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” với N và S; Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì B chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịutrách nhiệm hình sự về tội quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Đối với Kpuih H, Rơ Mah T, Rơ Lan M, Siu V, Siu T là những người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội khi họ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai không khởi tố về hình sự là đúng quy định pháp luật.HĐXX xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; hành vi của bị cáo Kpuih E xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Loại tội này có chiều hướng gia tăng, gây bất bình trong nội bộ quần chúng nhân dân. Để góp phần lập lại trật tự, trị an xã hội tại địa phương, phòng và chống tội phạm; cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mới đạt được mục đích giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Hội đồng xét xử xét, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, bị cáo Siu N là người rủ rê, lôi kéo những người khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành và có vai trò chính trong vụ án; Bị cáo từng bị kết án, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý; Đây tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Bị cáo Rơ Mah S tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người giúp sức, có vai trò không đáng kể quy định tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015; Bị cáo S và E là người chưa thành niên, bị rủ rê, lôi kéo vào việc phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên toà cũng như quá trình điều tra vụ án, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho người bị hại; làngười dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b,p khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật hình sự khi lượng hình, quyết định hình phạt đối với các bị cáo; Các bị cáo Rơ Mah S, Kpuih E trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Mặt khác khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Rơ Mah S, Kpuih E là người chưa thành niên nên được được hưởng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại chương X Bộ luật hình sự; Điều 91 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt các bị cáo S và E với cùng một mức án là hợp lý, thỏa đáng. 

Xét các bị cáo Rơ Mah S, Kpuih E có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có việc làm ổn định, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo không bắt đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hướng đến công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Áp dụng khoản 1 và 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo tạo cơ hội cho các bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, thể hiện sự nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta.

* Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); người bị hại đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

* Về vật chứng vụ án:

- Phần thân con bò cái (không có đùi và chân) lông màu vàng nhạt, 03 đùi bò và chân là tài sản hợp pháp của bà Kpuih H’ P nên CQĐT đã trao trả số tài sản trên cho bà Kpuih H’P là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- 01 cây gậy gỗ dài 1,2m, đường kính 5cm; 01 con dao rựa dài 60 cm; 01 con dao thái thịt dài 30cm là vật chứng không có giá trị và không sử dụng được; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.

- 01 con dao sau khi phạm tội bị cáo N đã vứt bỏ nhưng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử miễn xét.

* Về án phí: buộc các bị cáo Siu N, Rơ Mah S, Kpuih E. phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo:

Siu N, Rơ Mah S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và Kpuih E phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b,p khoản 1 và 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Siu N.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b,h,p khoản 1 và 2 Điều 46; Điều 53; khoản 1 và 2 Điều 60; Điều 69; khoản 4 Điều 71; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 54, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Rơ Mah S.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm b,h,p khoản 1 và 2 Điều 46; khoản 1 và 2 Điều 60; Điều 69; khoản 4 Điều 71; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Kpuih E.

1.1 Xử phạt bị cáo Siu N 09 (chín)  tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 25/5/2017).

1.2 Xử phạt  bị cáo Rơ Mah S và Kpuih E mỗi bị cáo: 06 (sáu)  tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2017). Giao các bị cáo Rơ Mah S, Kpuih E cho Ủy ban nhân dân xã IaHla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Miên xét.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử; tịch thu, tiêu hủy 01 cây gậy gỗ dài 1,2m, đường kính 5cm; 01 con dao rựa dài 60 cm; 01 con dao thái thịt dài 30cm. Đặc điểm nhận dạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/8/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chư Pưh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. 

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc các bị cáo Siu N Rơ Mah S, Kpuih E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo; người bào chữa, người bị hại có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, những người vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:34/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Pưh - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về