Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 22/05/2018 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 34/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/05/2018 VỀ YÊU CẦU THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 98/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về: “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Văn D - sinh năm: 1992

Địa chỉ: Ấp G, xã R, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

* Bị đơn: Chị Hoàng Thị P - sinh năm: 1997

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường H, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn D trình bày:

Anh và chị Hoàng thị P trước đây là vợ chồng nhưng sau đó đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự 169/2017/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do tại thời điểm ly hôn, con chung của anh và chị P là cháu Trần Văn S - sinh ngày 05/12/2014 chưa đủ 03 tuổi nên anh và chị P thỏa thuận giao cháu S cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng trong thực tế khi vợ chồng còn chung sống, chị P đã bỏ nhà ra đi để lại con cho anh trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, theo Quyết định của Tòa án, gia đình chị P đã nuôi cháu S được 01 tháng rồi do chị P đi Sài Gòn tìm việc làm, cháu sống với mẹ chị P tại vùng xung quanh toàn là ruộng muối và đìa nuôi tôm không đảm bảo cho sự an toàn của cháu, gia đình chị P không đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu từ nơi ăn chốn ở sinh hoạt và nhu cầu cho cháu nên anh đã trực tiếp nuôi cháu S. Bản thân anh có đủ điều kiện về kinh tế cũng như thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu S Anh làm rẫy và lái xe thu nhập mỗi tháng bình quân 12.000.000 đồng, luôn về nhà để chăm sóc con, đưa đón con đi học mẫu giáo đều đặn. Anh có nhà và đất riêng để sinh sống cùng con, có tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại ngân hàng Sacombank để nuôi con. Cha mẹ anh cũng hỗ trợ mọi điều kiện tốt nhất và cùng anh trực tiếp chăm sóc cháu S. Do đó, hiện nay sức khỏe cháu S rất tốt, cháu S đang được học lớp mẫu giáo ổn định tại trường Mầm Non K tại Khu phố X, thị trấn G, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Về phía chị P và cha mẹ chị P thì chị P không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, điều kiện nơi sinh sống với cha mẹ chị P tại vùng xung quang toàn là ruộng muối và đìa nuôi tôm không đảm bảo cho sự an toàn của cháu. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu S được đảm bảo sức khỏe và sinh hoạt, học tập ổn đinh, anh yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cháu S, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.

*Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Hoàng Thị P trình bày:

Chị và anh Trần Văn D trước đây là vợ chồng nhưng sau đó đã ly hôn như anh D đã trình bày. Khi ly hôn chị được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị và anh D là cháu Trần Văn S - sinh ngày 05/12/2014.

Sau khi ly hôn, do chị phải đi học nghề làm tóc tại thành phố Hồ Chí Minh nên có đưa cháu S vào huyện L, tỉnh Đồng Nai cho cha mẹ anh D nuôi dưỡng 01 tháng. Sau 01 tháng, cha chồng chị đưa cháu S ra cho mẹ chị ở tổ dân phố M, phường N, thành phố C. Cha chồng chị xin đưa cháu S vào L nuôi cháu 02 tháng sẽ trả lại cho cha mẹ chị. Chị có yêu cầu cha anh D giao trả lại con vào thời điểm tháng 8, tháng 9/2017 nhưng không được và đã có đơn khiếu nại đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Nay anh D yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cháu S cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng chị không đồng ý vì anh D không phải là người cha tốt, có hành vi bạo lực gia đình, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu S, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm nghề phụ bán hàng, tại cửa hàng mộc H tại tổ dân phố T, phường N, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa với mức lương 6.000.000đ/tháng và hiện đang làm thủ tục sang tên đứng chủ tiệm với mức lương 10.000.000đ/tháng và cao hơn nếu bán được nhiều hàng hóa. Chị có mua hợp đồng bảo hiểm AIA cho cháu Trần Văn S kỳ hạn 10 năm, mỗi năm đóng 7.200.000 đồng, chị đã đóng bảo hiểm AIA năm 2018 cho cháu Trần Văn S.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn anh Trần Văn D giao nộp cho Tòa án: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn (Bản phô tô); Giấy khai sinh của cháu Trần Văn S (bản sao); Giấy cam kết của chị Hoàng Thị P (Bản chính); Bảng lương năm 2017 của anh Trần Văn D (Bản chính); Đơn nguyện vọng ngày 23/4/2018 của ông Trần Văn A (Bản gốc); Văn bản thỏa thuận giữa các thành viên trong hộ gia đình ông Trần Văn A chứng thực ngày 17/01/2018 (Bản phô tô); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CH661273 ngày 12/5/2017 mang tên ông Trần Văn D, bà Hoàng Thị P (Bản phô tô). Thẻ tiết kiệm có kỳ hạn mang tên Trần Văn D (Bản phô tô); Giấy xác nhận đang đi học đề ngày 16/4/2018 xác nhận cháu Trần Văn S đang học lớp Mầm Non tại trường Mầm Non K tại Khu phố X, thị trấn G, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Bản gốc); 03 tấm ảnh cháu Trần Văn S.

Tài liệu, chứng cứ bị đơn chị Hoàng Thị P giao nộp cho Tòa án: Giấy đóng bảo hiểm AIA cho cháu Trần Văn S kỳ hạn 10 năm, mỗi năm đóng 7.200.000 đồng (Bản phô tô); Biên lai đóng bảo hiểm AIA cho cháu Trần Văn S năm 2018.(Bản phô tô)); Giấy đề ngày 17/6/2017 (âm lịch) có chữ ký của ông Trần Văn A (Bản chính).

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Trần Văn D yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con giữa anh và chị Hoàng Thị P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự .

[2]. Về nội dung vụ án: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 169/2017/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai đã công nhận anh Trần Văn D và chị Hoàng Thị P thuận tình ly hôn, chị P và anh D thỏa thuận giao con chung là cháu Trần Văn S - sinh ngày 05/12/2014 cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tuy nhiên, cháu S đã sống với anh D từ lúc ly hôn cho đến nay, chị Pi không thăm hỏi, quan tâm và điều kiện môi trường sống của gia đình chị P chung quanh là hồ, đìa không đảm bảo an toàn cho cháu S Nay anh D yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu S và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Chị P không đồng ý việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Xét thấy: Sau khi cha mẹ ly hôn việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần.

Chị P cho rằng chị có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con, anh D có hành vi bạo lực gia đình nên không thể là người cha tốt, tuy nhiên tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự tại phiên tòa thể hiện cháu S sống cùng gia đình anh D và anh D từ lúc sinh cho đến thời điểm chị P đưa con về C nhờ mẹ ruột chăm sóc, chị học nghề tóc tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2017. Thời điểm vợ chồng có quyết định ly hôn, cháu S đã được cha anh D đưa về L, Đồng Nai sống với anh D, chị cho rằng chị có yêu cầu cha anh D giao trả lại con vào thời điểm tháng 8, tháng 9/2017 nhưng không được và đã có đơn khiếu nại đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Việc chị P cho rằng chị đang phụ bán tại cửa hàng mộc H với mức lương 6.000.000đ/tháng và hiện đang làm thủ tục sang tên đứng chủ tiệm với mức lương 10.000.000đ/tháng và cao hơn nếu bán được nhiều hàng hóa. Tuy nhiên, cơ sở tiệm mộc H chỉ mới khai trương buôn bán từ ngày 26/4/2018, trên phần đất thuê, chị P không có hợp đồng lao động ký kết thể hiện việc làm và mức lương cũng như nơi ở ổn định, đủ điều kiện tốt nhất để chăm sóc con.

Chị P khi ly hôn được giao con dưới 36 tháng tuổi nhằm đảm bảo cháu được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất từ người mẹ nhưng chị P không trực tiếp nuôi con trong thời gian giải quyết việc ly hôn và thời gian sau ly hôn cho đến nay. Hiện nay, cháu S có sức khỏe tốt, đã ổn định cuộc sống và anh D có đủ điều kiện và thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng cháu S phát triển một cách tốt nhất về thể chất lẫn tinh thần, do đó yêu cầu của anh D có cơ sở chấp nhận theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn D về việc anh Trần Văn D không yêu cầu chị Hoàng Thị P cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về án phí: Anh Trần Văn D phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ Về thay đổi người trực tiếp nuôi con:

Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn D, anh Trần Văn D Tân trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Văn S - sinh ngày 05/12/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn D về việc anh Trần Văn D không yêu cầu chị Hoàng Thị P cấp dưỡng nuôi con.

Vì quyền lợi của con chung, anh Trần Văn D và chị Hoàng Thị P có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Chị Hoàng Thị P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

4. Về án phí: Anh Trần Văn D phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà anh Trần Văn D đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0012257 ngày 09/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C; như vậy, anh Trần Văn D đã nộp đủ án phí.

Anh Trần Văn D, chị Hoàng Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


78
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 22/05/2018 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con

Số hiệu:34/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về