Bản án 34/2018/HS-ST ngày 24/04/2018 về tội cướp tài sản và không tố giác tội phạm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 34/2018/HS-ST NGÀY 24/04/2018 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM

Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm C3 khai vụ án hình sự thụ lý 09/2018/TLST-HS ngày 08/02/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 20/2018/QĐXXST-HS ngày 06/4/2018, đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn K - Sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Thôn B - xã M - huyện M - tỉnh Nam Định.

Trình độ Văn hóa: 12/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố đẻ: Vũ Đức K, sinh năm 1961; Mẹ đẻ: Phạm Thị L, sinh năm 1960. Vợ: Đoàn Thúy K, sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2017.

2. Lê Đức Th - Sinh ngày 22/05/1999.

Nơi cư trú: Thôn Đ-xã M - huyện M - tỉnh Nam Định.

Trình độ Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Lê Văn K (đã chết); Mẹ đẻ:Bùi Thị A, sinh năm 1977. Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 14/7/2017Công an huyện Mỹ Lộc xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2017.

3. Đinh Đăng C- Sinh năm 1992.

Nơi cư trú:Tổ dân phố A - thị trấn M - huyện M - tỉnh Nam Định. Trình độ Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Đinh Đăng D (đã chết); Mẹ đẻ:Trần Thị M, sinh năm 1960. Tiền án: Không có. Tiền sự: Ngày 20/11/2016Công an huyện Mỹ Lộc xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự cộng cộng

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2017.

4. Đinh Hữu L - Sinh năm 1995.

Nơi cư trú: Tổ dân phố V-thị trấn M - huyện M - tỉnh Nam Định. Trình độ Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Đinh Hữu T, sinh năm 1967; Mẹ đẻ:Đặng Thị T (đã chết). Tiền án, tiền sự: Không có. Bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2017.

5.Đinh Đăng V- Sinh ngày 17/7/1999

Tên gọi khác: Đinh Đăng L1.

Nơi cư trú: Xóm 9 - xã L - huyện A - tỉnh Nghệ An.

Trình độ Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố đẻ: Đinh Đăng D, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 29/9/2017.

6. Đinh Hữu T-Sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A - thị trấn M - huyện M - tỉnh Nam Định. Trình độ Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Đinh Hữu L (đã chết); Mẹ đẻ:Đặng Thị S, sinh năm 1961. Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Nhân thân: Bản án số 29/2017/HS-ST ngày 29/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc - tỉnh Nam Định xử phạt 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo đang tạm giam để thi hành hình phạt tù của bản án số 29/2017/HS-ST .

* Người bị hại: Anh Phạm Văn Nam, sinh năm 1960

Nơi cư trú: Số 4/22/1 đường L - phường T - thành phố N - tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng:

1. Anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1986

2. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975

3. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1967

4. Anh Đinh Tuấn C2, sinh năm 1988

5. Anh Nguyễn Tiến C3, sinh năm 1982

6. Bà Vũ Thị M, sinh năm 1966

7. Ông Vũ Đức Kh, sinh năm 1961

8. Chị Bùi Thị A, sinh năm 1977

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/9/2017 Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) - Công an tỉnh Nam Định tiếp nhận đơn của chị Vũ Thị M trình báo về việc chồng chị là anh Phạm Văn N bị một nhóm đối tượng đánh và lấy đi 01xe máy Wave BKS18B1-23928.

Sau khi nhận được đơn trình báo của gia đình anh Phạm Văn N, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập các đối tượng liên quan và làm rõ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 6/2017, qua mối quan hệ xã hội, Vũ Văn K quen biết anh Phạm Văn N và đã cho anh N nợ số tiền mua lô đề là 10.340.000đồng. K đã gọi điện thoại nhiều lần để đòi tiền nợ nhưng anh N vẫn chưa trả. Khoảng 23h00’ngày 18/9/2017, K ngồi uống nước tại quán nước nhà anh C2 ở thị trấn M - huyện M - tỉnh Nam Định cùng 05 người gồm Đinh Đăng C, Lê Đức Th, Đinh Hữu T, Đinh Đăng V (tức Đinh Văn L1), Đinh Hữu L. K rủ Th, C, L, T, V đi tìm anh N để đòi nợ. Cả nhóm đồng ý. K chở Th và L1 bằng xe máy BKS 18Z4-2995 (xe của gia đình K), còn C chở L và T bằng xe máy do L mượn của bạn cùng khu trọ. Khi đến cổng Công ty DENIN ở khu công nghiệp Hòa Xá, nhóm của K đứng đợi anh N. Khoảng 23h30’ anh N đi xe máy nhãn hiệu Wave BKS 18B1-23928 đến Công ty DENIN để đưa đồ ăn cho công nhân. K gọi anh N dừng lại để nói chuyện nhưng anh N vẫn điều khiển xe vào bên trong cổng Công ty. K liền bảo Th chạy đến chặn đầu xe anh N và yêu cầu anh N quay lại nói chuyện với K. Anh N xuống xe đi cùng Th ra chỗ K đang đứng bên ngoài cổng Công ty DELIN. K nói: “Ý chú bây giờ như thế nào? Trả hay không?”. Anh N trả lời: “Cho chú khất, bây giờ chú chưa có”. Ngay lập tức, K dùng tay phải cầm dép tông đánh liên tiếp vào đầu anh N và nói:

“Ông phải trả tiền nợ không thì không được”. Liền sau đó Th nhảy vào dùng tay đấm, tát vào mặt anh N. K nói: “Đừng đánh nữa”, Th dừng lại. Sau đó anh N xin K vào Công ty để đưa đồ ăn cho Công nhân. K sợ anh N vào đưa cơm sẽ bỏ trốn nên nói với anh N: “Chú phải xin bảo vệ cho một thằng em cháu đi vào cùng chú”. Anh N đến xin bảo vệ của Công ty cho một người nữa vào cùng. K bảo L đi cùng anh N vào trong Công ty. Trong lúc chờ đợi L và anh N vào đưa đồ ăn cho công nhân, K nói với số người đi cùng là anh N nợ tiền đánh lô khoảng hơn 10 triệu nhiều lần hẹn nhưng không trả nên hôm nay phải đi đòi. Khoảng 30 phút sau thì L cùng anh N đi ra. K bảo với L1 đi vào trong cổng dắt xe máy của anh N ra ngoài và bảo L1

đi xe máy của anh N chở anh N về quán “Net” của K để viết giấy vay nợ. K và Th đi xe máy của K; L, C, T đi một xe. Do quán “Net” của K mất điện nên K cùng các đối tượng trên đưa anh N về quán Karaoke Hoàng Gia của anh Trần Ngọc T1 (bạn của K) (sinh năm1986, ĐKHKTT: Thôn Th, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định). Khi đến quán Karaoke, nhóm của K đưa anh N vào phòng lễ tân. K mượn giấy bút đưa cho C và bảo C đọc cho anh N viết giấy vay nợ với nội dung là để lại chiếc xe máy, hẹn 5 ngày sau phải trả hết số tiền nợ. C đưa giấy bút, đọc cho anh N viết giấy vay nợ và giữ lại xe máy Wave BKS 18B1-23928; 01 chứng minh nhân dân của anh N. Sau đó, K bảo L và Th chở anh N về nhà. C, L1, T đi xe máy về nhà. Còn K cầm giấy vay tiền, chứng minh nhân dân và xe máy của anh N về nhà mình ở Thôn B - xã M - huyện M - tỉnh Nam Định. Trên đường về nhà đôi dép tông K sử dụng để đánh anh N bị đứt quai nên K đã ném ở mé đường, đến nay K không xác định được vị trí nên CQĐT không thu được. Đến trưa ngày 19/9/2017 anh N hẹn trả tiền. K bảo Th và L ra cầu vượt xã Lộc Hòa - thành phố Nam Định gặp anh N lấy 2,5 triệu đồng về đưa cho K. Do anh N chưa trả đủ số tiền nợ nên K chưa trả xe máy và CMND cho anh N.

Căn cứ tài liệu thu thập được, ngày 28/9/2017 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định ra Quyết đinh khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam trong thời hạn 04 tháng đối với Vũ Văn K, Lê Đức Th, Đinh Đăng V (L1), Đình Hữu L, Đinh Đăng C về tội “Cướp tài sản”quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999.

- Tại bản Kết luận định giá ngày 13/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS tỉnh Nam Định kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110S, BKS 18B1 - 23928 có trị giá 8.500.000đồng.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 198/17/TgT ngày 05/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh Phạm Văn N là 8%. Cơ chế hình thành vết thương: Vật tầy cứng tác động gây thương tích.

Đối với Đinh Hữu T, đi cùng chứng kiến K và đồng bọn sử dụng vũ lực tấn công anh Phạm Văn N để đòi nợ và lấy chiếc xe môtô cùng 01 CMND của anh N. Mặc dù có đủ điều kiện nhưng T đã không can ngăn, sau khi sự việc xảy ra, T không tố giác hành vi phạm tội của K và đồng bọn. Căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được ngày 15/01/2018, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Nam Định ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam 02 tháng đối với Đinh Hữu T về tội: “Không tố giác tội phạm” quy định tại điều 314 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Về vật chứng trong vụ án gồm:

- 01 điện thoại di động hiệu Masstel vỏ màu xanh đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA vỏ màu đỏ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng (thu của Vũ Văn K)

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu trắng loại cảm ứng đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng (thu của Đinh Hữu T)

- 01 điện thoại di động hiệu FPT màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng (thu của Đinh Đăng C) Chiếc xe máy Wave 110S BKS 18B1-239.28; 01chứng  minh nhân dân mang tên anh Phạm Văn N mà K và đồng bọn lấy của anh N, Cơ quan CSĐT(PC45) thu giữ và trả lại cho anh N. Quá trình điều tra, gia đình bị cáoVũ Văn K tự nguyện bồi thường cho anh N là 25.000.000 đồng và gia đình của Lê Đức Th bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Anh Phạm Văn N đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Văn K và Lê Đức Th.

* Cáo trạng số 10/QĐ-KSĐT ngày 05/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố:

- Vũ Văn K, Lê Đức Th, Đinh Đăng C, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Hữu L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS 1999.

- Đinh Hữu T về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 314 BLHS 1999

Tại phiên tòa sơ thẩm:

*Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản cáo trạng, và đều xác nhận đã bị VKSND tỉnh Nam Định truy tố là đúng tội, không oan.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người bị hại Phạm Văn N xác nhận diễn biến sự việc xảy ra đúng như nội dung cáo trạng và như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa. Người bị hại cũng xác nhận quá trình điều tra đã được nhận lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt, đã được gia đình bị cáoVũ Văn K tự nguyện bồi thường 25.000.000đồng, gia đình bị cáo Lê Đức Th bồi thường số tiền 5.000.000đồng. Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nữa, đồng thời người bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét vị trí vai trò, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị xử phạt: Bị cáo Vũ Văn K từ 45 tháng tù đến 48 tháng tù.

Bị cáo Lê Đức Th, Đinh Đăng C, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Hữu L, mỗi bị cáo từ 42 tháng tù đến 45 tháng tù.

Bị cáo Đinh Hữu T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, và phải cộng với hình phạt của bản án số 29/2017/HS-ST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; bằng lời khai của người bị hại; người làm chứng; bằng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vũ Văn K cho anh Phạm Văn N vay tiền để chơi lô đề, K đã đòi nhiều lần nhưng anh N chưa trả tiền. Khoảng 23h ngày 18/9/2017, Vũ Văn K đã rủ Lê Đức Th, Đinh Hữu L, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Đăng C, Đinh Hữu T đi tìm anh N để đòi nợ. Khi gặp anh N trước cổng Công ty DENNIN (khu công nghiệp Hòa Xá), K đã dùng dép tông đánh liên tiếp vào người anh N, Th dùng tay chân đấm đá anh N, sau đó theo sự chỉ đạo của K, L đã áp tải anh N đi vào Công ty đưa cơm cho Công nhân, sau đó L1 lấy xe máy của anh N để chở anh N và cùng cả bọn đưa anh N về quán karaoke Hoàng Gia (tại xã H - huyện V), tại đây theo sự chỉ đạo của K, C đưa giấy bút và đọc cho anh N viết giấy vay nợ tiền. Do anh N chưa có tiền để trả nợ, nên Vũ Văn K và đồng bọn đã lấy chiếc xe máy cùng chứng minh thư nhân dân của anh N. Hành vi của Vũ Văn K, Lê Đức Th, Đinh Hữu L, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Đăng C dùng chân tay đánh, đá vào người anh Phạm Văn N để lấy tài sản chiếm đoạt, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS1999.

Đinh Hữu T đã chứng kiến Vũ Văn K và đồng bọn dùng vũ lực tấn công để chiếm đoạt tài sản của anh N, biết hành vi của K và đồng bọn là vi phạm pháp luật nhưng T không có hành vi lời nói can ngăn, cũng không đi trình báo cơ quan có thẩm quyền, nên hành vi của Đinh Hữu T đã phạm vào tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự 1999.

Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu và quyền nhân thân của người bị hại, xâm phạm đến trật tự công cộng trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ một giao dịch dân sự vay nợ, lẽ ra các bị cáo cần nhờ đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết giao dịch dân sự vay nợ này để lấy lại tiền theo đúng quy định của pháp luật, nhưng các bị cáo đã manh động đi tìm người bị hại, đã có hành vi dùng vũ lực tấn công để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành xử của các bị cáo thể hiện tính côn đồ coi thường pháp luật. Các bị cáo trong vụ án đều có đủ năng lực hành vi, đều biết và nhận thức được việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với tính chất tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Nam Định, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

[3] Xếp vị trí vai trò các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Cướp tài sản”:

- Vũ Văn K là người khởi xướng rủ rê, trực tiếp chỉ đạo đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội, giữ vai trò thứ nhất.

- Lê Đức Th trực tiếp dùng chân tay đấm đá anh Phạm Văn N, thực hiện hành vi phạm tội tích cực, giữ vai trò thứ hai.

- Đinh Hữu L, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Đăng C thực hiện hành vi phạm tội giữ vai trò đồng phạm giúp sức, nhóm cuối.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS 2015

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.

Bị cáo Vũ Văn K, Lê Đức Th đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho người bị hại, nên hai bị cáo K và Th được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[4] Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, vị trí vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo; đối chiếu với các văn bản hướng dẫn thực thi Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hội đồng xét xử thấy cần ấn định cho các bị cáo mức hình phạt trong khung đã truy tố và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian; Như vậy mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đầy đủ cho bị hại, người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến phần dân sự trong vụ án.

[6] Xử lý vật chứng: Những chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo, qua điều tra và tranh tụng xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nên tuyên trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Pháp lệnh về án phí lệ phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn K, Lê Đức Th, Đinh Đăng C, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Hữu L phạm tội “Cướp tài sản”.

Bị cáo Đinh Hữu T phạm tội “Không tố giác tội phạm”

2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 133 BLHS 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS 2015; điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (đối với bị cáo K, Th).

Xử phạt:

- Bị cáo Vũ Văn K 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2017.

- Bị cáo Lê Đức Th 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2017.

- Bị cáo Đinh Đăng C 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2017.

- Bị cáo Đinh Hữu L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2017.

- Bị cáo Đăng Đăng V (tức L1) 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017.

2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 314 BLHS 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.

Xử phạt bị cáo Đinh Hữu T 18 (mười tám) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 BLHS 2015: Tổng hợp hình phạt với bản án số 29/2017/HS- ST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Mỹ Lộc đã xử phạt bị cáo T 08 tháng tù, buộc bị cáo Đinh Hữu T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2018 (được trừ đi thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bán án từ ngày 29/9/2017 đến ngày 24/4/2018).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS 2015

- Tuyên trả lại cho bị cáo Vũ Văn K 01 điện thoại di động hiệu Masstelvỏ màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA vỏ màu đỏ nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Tuyên trả cho bị cáo Đinh Hữu T01 điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu trắng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Tuyên trả cho bị cáo Đinh Đăng C01 điện thoại di động hiệu FPT màu đen nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án. (Chi tiết cụ thể trong ghi trong biên bản giao nhận vật chứng số 29/18 ngày26/01/2018 giữaCông an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định)

4. Án phí: Vũ Văn K, Lê Đức Th, Đinh Đăng C, Đinh Đăng V (tức L1), Đinh Hữu L, Đinh Hữu T, mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo các bị cáo, người bị hại có mặt, đều được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


89
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2018/HS-ST ngày 24/04/2018 về tội cướp tài sản và không tố giác tội phạm

Số hiệu:34/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về