Bản án 34/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn L, sinh năm 1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn N và bà: Lưu Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn bắt tạm giam từ ngày 05/11/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Kim Chi Công an tỉnh Hải Dương theo Quyết định tạm giam số 21 ngày 01/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; có mặt.

2. Vũ Quốc B (tên gọi khác T); sinh năm 1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 1 K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Vũ Văn M và bà: Lưu Thị L; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt để tạm giam từ ngày 29/01/2019; có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 29/10/2018, Lê Văn L bị Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương bắt giữ khi đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter gắn biển kiểm soát 34D1-185.42 do trộm cắp mà có. Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã bàn giao Lê Văn L cho Công an huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giải quyết. Tại Công an huyện Kinh Môn, L khai nhận đã nhiều lần trộm cắp tài sản ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, L còn khai cùng với Vũ Quốc B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, cụ thể như sau:

Do không có tiền ăn tiêu nên khoảng 01 giờ ngày 29/10/2018, L và Vũ Quốc B rủ nhau đi trộm cắp tài sản. B mang theo 01 chiếc mỏ lết, bọc cao su màu đen và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34D1-185.42 chở L đi từ khu vực ga Phú Thái thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương theo Quốc lộ 5 đến huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến thôn 8, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng thì phát hiện trong sân nhà chị Nguyễn Thị H, có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 dựng ở sân, chìa khóa cắm ở ổ khóa, cổng khóa, không có người trông coi. B đỗ xe cách cổng nhà chị H khoảng 05m để cảnh giới, L xuống xe, dùng chiếc mỏ lết móc, bẻ gãy tai khóa cổng. Sau khi phá được tai khóa cổng, L vứt chiếc khóa trên vào bụi tre gần đó. L đi vào sân nhà chị H dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 ra ngoài đường rồi nổ máy điều khiển xe bỏ chạy về hướng cầu Kiền, B điều khiển xe mô tô đi sau. L , B mang xe đến nhà anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1984 ở thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (là bạn của L và B), gửi xe mô tô, mỏ lết tại nhà anh H. Khi gửi xe, L không nói cho anh H biết xe do trộm cắp mà có.

Căn cứ lời khai của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novou LX không gắn biển kiểm soát tại nhà anh H. Công an huyện Kinh Môn đã có công văn trao đổi và chuyển toàn bộ vật chứng cho Công an huyện Thủy Nguyên để giải quyết theo thẩm quyền.

Theo lời khai của chị Nguyễn Thị H: xe mô tô Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 của chị mua từ năm 2014, chị để ở sân nhà, khóa cổng. Khoảng 06 giờ 30 ngày 29/10/2018, chị H phát hiện cổng bị bẻ gãy một phần tại khóa, xe mô tô của chị bị mất nên chị đã trình báo cơ quan Công an.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 12/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 có giá trị là 11.000.000 đồng.

Tiến hành xác định hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc khóa bằng kim loại sáng màu, kích thước 07x05x1,5cm, nhãn hiệu EXTRA PLUS YANG FAN TOP SECURITY không có dấu vết cắt ở bụi tre cách cổng nhà chị H 7,7m.

Khám xét nơi ở của anh Nguyễn Đức H , Cơ quan điều tra thu giữ 01 mỏ lết bằng kim loại sáng màu, dài 25,3cm, giữa thân bọc cao su màu đen.

Ngày 29/01/2019, Vũ Quốc B bị bắt tạm giam. Tại Cơ quan điều tra, Bằng khai nhận như trên.

Về dân sự vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã trả cho chị Nguyễn Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 và 01 khóa kim loại sáng màu nhãn hiệu EXTRA PLUS YANG FAN TOP SECURITY, chị H đã nhận lại tài sản, không đề nghị L, B phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác.

Vật chứng vụ án: 01 mỏ lết bằng kim loại sáng màu, dài 25,3cm, giữa thân bọc cao su màu đen.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 26 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố Lê Văn L, Vũ Quốc B về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Quốc B từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s, Điểm r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết bằng kim loại sáng màu, dài 25,3cm, giữa thân bọc cao su màu đen. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn L, Vũ Quốc B khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn L, Vũ Quốc B khai cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo thực hiện. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lê Văn L, Vũ Quốc B có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 trị giá 11.000.000 đồng là phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo L đã từng tham gia quân đội; bị cáo B có ông nội có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Văn L tự thú là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về phần hình phạt: Các bị cáo cùng rủ nhau trộm cắp tài sản, tuy nhiên L là người thực hành tích cực hơn, trực tiếp cắt ổ khóa, trực tiếp vào chiếm đoạt tài sản và điều khiển xe máy đem đi gửi nên xác định vai trò của bị cáo L cao hơn so với bị cáo B. Bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn nên có thể xem xét quyết định hình phạt của bị cáo L và bị cáo B là ngang nhau. Căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào sự thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có thể áp dụng mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt tù là thỏa đáng. Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên không phạt tiền các bị cáo.

[5]. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: 01 mỏ lết bằng kim loại sáng màu, dài 25,3cm, giữa thân bọc cao su màu đen là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

[7]. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen trắng biển kiểm soát 34D1-185.42 do B và L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn đang tạm giữ, điều tra, xác minh. Đối với Nguyễn Đức H có hành vi nhận và để xe mô tô Yamaha Novou LX biển kiểm soát 15G1-349.96 do L và B trộm cắp được mà có tại nơi của mình, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, xác minh H không có mặt ở địa phương. Tài liệu điều tra chưa đủ cơ sở xác định H có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra tách ra, làm rõ xử lý sau. Đối với hành vi trộm cắp của L và B ở tỉnh Hải Dương, tòa án huyện Kinh Môn đang thụ lý giải quyết.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Vũ Quốc B phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Vũ Quốc B 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29 tháng 01 năm 2019.

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s, Điểm r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Lê Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 05 tháng 11 năm 2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại sáng màu, dài 25,3cm, giữa bọc cao su màu đen, đã qua sử dụng (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 3 năm 2019 và phiếu nhập kho số NK2019/46 ngày 22 tháng 3 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án các bị cáo Lê Văn L, Vũ Quốc B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Văn L, Vũ Quốc B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về