Bản án 34/2019/HS-ST ngày 17/05/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH’LEO, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện EaH’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Phạm Phi Q, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn PH, xã IB, huyện CS, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Phi Ph và bà Trần Thị H. Có vợ là Phan Thị Ngọc H1. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2019, chuyển sang tạm giam từ ngày 18/01/2019 đến ngày 01/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo Quyết định về việc bảo lĩnh, có mặt.

2. Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1988; nơi sinh: tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: T3, xã NY, huyện ĐĐ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn Th1 và bà Trịnh Thị Đ. Có vợ là Phạm Thị Minh Ng và có 01 người con, sinh năm 2018. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2019, chuyển sang tạm giam từ ngày 18/01/2019 đến ngày 01/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo Quyết định về việc bảo lĩnh, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu T – sinh năm 1985. Nơi cư trú: 69A ĐTM, phường TL, thành phố PK, tỉnh Gia Lai, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Võ Hồng Ph – sinh năm 1975. Nơi cư trú: 60/1 HBT, phường TS, thành phố PK, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

+ Ông Võ Hồng H (tên gọi khác: T) – sinh năm 1998. Nơi cư trú: 60/1 HBT, phường TS, thành phố PK, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Tr - sinh năm 1968. Nơi cư trú: T12, thị trấn ED, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Phi Q và Nguyễn Tấn Th đều là người lái xe ô tô chở hàng thuê cho ông Trần Hữu T, sinh năm 1985, trú tại Tổ 8, phường TL, thành phố PK, tỉnh Gia Lai. Vào chiều ngày 08/01/2019, T gọi điện thoại cho Q và Th biết, gần tối đến nhận xe ô tô biển số 81C-151.28 và bốc hàng lên xe tại địa chỉ số 191 LTT, phường IK, thành phố PK, tỉnh Gia Lai đi thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận và chở hàng từ Ninh Thuận về lại thành phố PK, tỉnh Gia Lai. Khi gọi điện cho Q, T cho biết hàng hoá gồm có 07 bao vỏ Thông, 05 bao Đậu đen, 03 thùng carton (Thùng giấy các tông). Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày Q đi đến địa chỉ 191 LTT, phường IK, thành phố PK nơi để xe ô tô và tập kết hàng hoá và gặp T ở quán nước gần đó, lúc này Th chưa đến nên Q mượn xe máy của ông T đi chở Th đến để bốc hàng lên xe đi Phan Rang. Sau đó, Q cùng với Th và Võ Hồng H (con trai của Võ Hồng Ph chủ nhà số 191 Lê Thánh Tôn, T.P PK), sinh năm 1998, trú tại 60/1 HBT, t3, phường TS, thanh phố PK, tỉnh Gia Lai đang trông nhà cho ông Ph phụ bốc số hàng 07 (bảy) bao vỏ Thông, 05 (năm) bao Đậu đen, 03 (ba) thùng carton lên xe ô tô tải biển số 81C-151.28.

Trên đường đi từ thành phố PK, Gia Lai về Ninh Thuận do Th và Q đều biết trong ba thùng catton có chứa thuốc lá ngoại nhập lậu nên Q và Th có nói chuyện với nhau “chở hàng này nguy hiểm quá” (ý nói là chở thuốc lá điếu ngoại nhập lậu sẽ bị Cơ quan chức năng kiểm tra bắt giữ) “Lương thì thấp nên đi hết chuyến này cả hai không làm nữa”. Nói chuyện xong thì Q ngủ còn Th lái xe, khi xe ô tô 81C-151.28 Th điều khiển đi đến đoạn đường Hồ Chí Minh, thuộc t8, thị trấn ED, huyện E thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, tang vật thu giữ gồm 03 thùng catton, bên trong có 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet; 01 xe ô tô biển số 81C-151.28.

Tại biên bản mở niêm Phong và kiểm tra vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Cục hải quan và Sở Công thương tỉnh Đắk Lắk, xác định: Kiểm tra số lượng 150 (Một trăm năm mươi) cây, 01 cây = 10 bao. Tổng cộng 1.500 bao; chủng loại: Thuốc lá điếu; Nhãn hiệu: Jet; Nguồn gốc xuất xứ: Có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài nhập lậu vào Việt nam (Trong nước không sản xuất).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã tiến hành xác minh, làm rõ hành vi của Trần Hữu T là chủ xe ô tô số 81C-151.28 liên quan đến 03 thùng cactton chứa 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, nhưng không chứng minh được ông T có liên quan đến 03 thùng catton, bên trong có chứa 1.500 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với Phạm Hồng H có phụ giúp Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q bốc 03 thùng carton lên xe nhưng không biết bên trong là loại hàng hoá gì nên không có căn cứ xử lý.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình.

Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo truy tố để xét xử đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức án Tòa tuyên.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 xe ô tô biển kiểm soát 81C- 151.28 cho ông Trần Hữu T là chủ sở hữu; Tịch thu tiêu hủy 1500 bao thuốc lá, hiệu Jet có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 21 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 14) thuộc t8, thị trấn ED, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Phi Q và Nguyễn Tấn Th đang có hành vi vận chuyển 1500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, về tội: Vận chuyển hàng cấm, theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Tại Điều 191 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;”

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc vận chuyển thuốc lá điếu, có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài, được nhập lậu vào Việt Nam là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật, nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông. Vì vậy, cần áp dụng đối với các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, ngoài ra còn có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự; Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Như vậy, trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét thấy, lời luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

Đi với ôngTrần Hữu T là người đã thuê Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q chở hàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã tiến hành xác minh, làm rõ hành vi của Trần Hữu T là chủ xe ô tô số 81C- 151.28 liên quan đến 03 thùng cactton chứa 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, nhưng không chứng minh được ông T có liên quan đến 03 thùng catton, bên trong có chứa 1.500 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với Phạm Hồng H có phụ giúp Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q bốc 03 thùng carton lên xe nhưng không biết bên trong là loại hàng hoá gì nên không có căn cứ xử lý.

[4] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81C-151.28 cho ông Trần Hữu T là chủ sở hữu. Xét việc giao trả vật chứng của công an huyện Ea H’leo là có căn cứ, phù hợp với đề nghị của đại diện viện kiểm sát và các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận.

Cần tuyên tịch thu tiêu hủy 1500 bao thuốc lá, hiệu Jet có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc;

(Đặc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).

[5] Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, mỗi bị cáo 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Tấn Th cho Uỷ ban nhân dân xã NY, huyện ĐĐ, tỉnh Gia Lai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã NY trong việc giám sát giáo dục bị cáo; giao bị cáo Nguyễn Tấn Th cho Uỷ ban nhân dân xã IB, huyện CS, tỉnh Gia Lai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã IB trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81C-151.28 cho ông Trần Hữu T là chủ sở hữu.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 1500 bao thuốc lá, hiệu Jet có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.

(Đc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn Th và Phạm Phi Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 17/05/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea H'leo - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về