Bản án 342/2018/HNGĐ-ST ngày 11/09/2018 về ly hôn, tranh chấp con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 342/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP CON CHUNG

Ngày 11 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 178/2018/TLST-HNGĐ, ngày 18/5/2018 về: “Ly hôn và tranh chấp con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-DS ngày 31/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Đoàn L – Sinh năm: 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn An Tự, xã Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thu H - Sinh năm: 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn An Tự, xã Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Đoàn L trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thu H kết hôn với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau một thời gian chung sống cùng nhau thì bà H sinh ra cờ bạc, nợ nần, bị nhiều người tìm đến nhà đòi nợ nên vào tháng 3/2013 bà H tự ý bỏ nhà ra đi bỏ lại hai con nhỏ cho ông L nuôi dưỡng, từ đó đến nay không trở về lại nhà. Sau một thời gian chờ đợi và tìm kiếm không có tin tức gì của bà H nên tháng 10/2017, ông Đoàn L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thu H mất tích và Tòa án đã có quyết định số 04/2018/QĐ DS-ST ngày 17/4/2018 tuyên bố bà Nguyễn Thu H mất tích. Việc bà H bỏ nhà đi trong thời gian dài và bị tuyên bố mất tích thì cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục được nên ông L yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thu H.

Về con chung: Có 2 con

- Đoàn Nguyễn Cẩm T – Sinh ngày: 11/11/2008

- Đoàn Nguyễn Cẩm H – Sinh ngày: 12/7/2010

Từ khi bà H bỏ đi đến nay thì hai con ở với ông L, nay ông yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng 2 con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: không có

Ngoài ra ông Đoàn L không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thu H, do đã có Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án nên sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà H theo đúng trình tự thủ tục tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự và tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến. Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân thủ đúng các quy định pháp luật, riêng bị đơn đã tuyên bố mất tích nên không đánh giá về ý thức chấp hành pháp luật của bị đơn; Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho ông Đoàn L được ly hôn với bà Nguyễn Thu H, con chung giao cho ông Đoàn L nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn nhận định:

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thu H vắng mặt không có lý do lần thứ 2, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đoàn L và bà Nguyễn Thu H kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân ly hôn là do bà H bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 2 năm 2013 đến nay không về, ông Đoàn L cùng với gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì, ngày 17/4/2018 bà Nguyễn Thu H bị Tòa án tuyên bố mất tích. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa ông Đoàn L và bà Nguyễn Thu H không đạt được, việc ông L yêu cầu ly hôn bà H là có căn cứ, đúng với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Tòa án giải quyết cho ông Đoàn L được ly hôn với bà Nguyễn Thu H.

[4] Về con chung: Có 2 con - Đoàn Nguyễn Cẩm T – Sinh ngày: 11/11/2008; Đoàn Nguyễn Cẩm H – Sinh ngày: 12/7/2010. Ông Đoàn L có yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng, Trường hợp này xét thấy: Từ khi bà H bỏ đi đến nay, hai con Đoàn Nguyễn Cẩm T và Đoàn Nguyễn Cẩm H sống cùng với cha, được ông L nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, các con cũng mong muốn được tiếp tục ở với cha nên để đảm bảo ổn định môi trường sống, học tập và sinh hoạt bình thường cho các con, Hội đồng xét xử giao hai con Đoàn Nguyễn Cẩm T và Đoàn Nguyễn Cẩm H cho ông Đoàn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động.

[5] Về chia tài sản và nợ chung: Ông Đoàn L khai tài sản chung và nợ chung không có nhưng quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với bị đơn nên không xác định được tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Do đó, HĐXX không xem xét, sau này các đượng sự có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.

[6] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho ông Đoàn L được ly hôn với bà Nguyễn Thu H

2. Về con chung: Giao hai con Đoàn Nguyễn Cẩm T – Sinh ngày: 11/112008; Đoàn Nguyễn Cẩm H – Sinh ngày: 12/7/2010 cho ông Đoàn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động, ông L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Thu H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.

3. Về án phí: Ông Đoàn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009052 ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. (Ông Đoàn L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm)

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt tống đạt hợp lệ.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 342/2018/HNGĐ-ST ngày 11/09/2018 về ly hôn, tranh chấp con chung

Số hiệu:342/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Bàn - Quảng Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về