Bản án 35/2015/DSPT ngày 10/11/2015 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 35/2015/DSPT NGÀY 10/11/2015 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

Ngày 10 tháng 11 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2015/TLPT-DS ngày 06/5/2015 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở”. Do Bản án dân sự số 01/2014/DS-ST ngày 02/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 933/2015/QĐ-PT ngày 23/10/2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Sơn, sinh năm 1949 và bà Phạm Thị Tuyết, sinh năm 1953; cùng trú tại: số 9B, ngõ 11, đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Ông Sơn ủy quyền cho bà Tuyết; có mặt.

* Bị đơn:

1. Bà Chu Thị Đức, sinh năm 1932; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Quốc Việt, sinh năm 1962; vắng mặt.

3. Anh Ngô Quốc Triều, sinh năm 1965; vắng mặt.

4. Anh Ngô Hồng Quang, sinh năm 1966; vắng mặt.

5. Chị Ngô Thị Vinh, sinh năm 1968; vắng mặt.

6. Anh Ngô Hồng Phụng, sinh năm 1971; có mặt.

Đều có HKTT tại: số 9 đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Đều tạm trú tại: vùng 2, tổ 26, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Bà Đức, ông Việt, ông Triều, ông Quang, bà Vinh, ông Phụng đều ủy quyền cho ông Phan Khắc Nghiêm, sinh năm 1976; trú tại: xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; trú quán: 78 phố Đốc Ngữ, Ba Đình, Hà Nội; có mặt.

* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Chu Thị Đức và các anh chị: Ngô Quốc Việt, Ngô Quốc Triều, Ngô Hồng Quang, Ngô Thị Vinh, Ngô Hồng Phụng: Luật sư Bùi Quang Tú, Văn phòng luật sư Minh Long - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Ngọc Tuấn, Phó trưởng phòng đăng ký thống kê đất đai - Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo bà Phạm Thị Tuyết trình bày:

Ngày 25/6/2001 vợ chồng bà Tuyết ông Sơn đã nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn Nho và vợ là Chu Thị Đức 121m2 đất ở có chiều ngang dọc theo ngõ 11 là 7m; Chiều sâu hết thửa đất là 17,3m ở tại số 9, ngõ 11, đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 diện tích 17m2 và công trình phụ cộng là 25m2. Giá chuyển nhượng là 13.000.000 đồng/1m2. Tổng cộng giá chuyển nhượng là 1.574.300.000 đồng (một tỷ năm trăm bảy mươi tư triệu, ba trăm ngàn đồng). Gia đình ông Sơn bà Tuyết đã thanh toán đầy đủ tiền cho gia đình ông Nho bà Đức, gia đình ông Nho bà Đức cũng đã bàn giao diện tích đất cho gia đình ông Sơn bà Tuyết sau khi nhận đủ tiền. Sau khi nhận nhà đất, gia đình ông Sơn bà Tuyết cũng đã xây dựng lại nhà cửa trên toàn bộ diện tích 121m2 đất. Khi chuyển nhượng do ông Nho, bà Đức chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ viết tay với nhau mà chưa làm hợp đồng có công chứng nhà nước. Ngày 06/02/2002 ông Nho, bà Đức được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số 9 ngõ 11 đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, đến ngày 22/3/2002 thì hai bên gia đình đã đến Ủy ban nhân dân phường Quảng An để làm thủ tục xác nhận việc chuyển nhượng và thực hiện thủ tục tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi mua hai bên thỏa thuận khi nào bên mua trả hết tiền thi bên bán có nghĩa vụ tạo điều kiện để tách sổ đỏ cho bên mua. Nhưng khi gia đình ông Sơn bà Tuyết trả hết tiền thì gia đình ông Nho bà Đức không thực hiện đúng cam kết, không đưa các giấy tờ để gia đình ông Sơn bà Tuyết đi làm thủ tục tách sổ đỏ. Cuối năm 2003, ông Nho chết, bà Đức là vợ của ông Nho cùng các con ông Nho không thực hiện nghĩa vụ của gia đình mặc dù gia đình ông Sơn bà Tuyết yêu cầu nhiều lần, gia đình ông Sơn bà Tuyết đã có đơn đến Phòng Tài nguyên và môi trường quận Tây Hồ đề nghị giải quyết, nhưng Phòng Tài nguyên và môi trường quận Tây Hồ đã hướng dẫn ông bà khởi kiện đến Tòa án. Ngày 27/6/2011 gia đình ông Sơn bà Tuyết đã gửi đơn đến Tòa án nhân dân quận Tây Hồ yêu cầu bà Chu Thị Đức và các con là thừa kế của ông Ngô Văn Nho tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở, thực hiện các thủ tục tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở cho gia đình ông bà. Tuy nhiên, gia đình bà Đức lại chuyển giao toàn bộ đất nhà cho các con trong đó có cả phần đất đã bán cho gia đình ông Sơn bà Tuyết. Nay ông bà đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở giữa gia đình bà với gia đình ông Nho bà Đức, đồng thời ông bà đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết hủy giấy thỏa thuận phân chia tài sản cho các con của bà Chu Thị Đức ký ngày 12/6/2006 và được Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội công nhận ngày 19/6/2006. Tại phiên tòa sơ thẩm thì bà Tuyết rút yêu cầu này.

Ông Phan Khắc Nghiêm đại diện ủy quyền của gia đình bà Chu Thị Đức và các con bà Đức trình bày:

Năm 2002, ông Ngô Văn Nho và bà Chu Thị Đức có chuyển nhượng lại cho ông Trần Ngọc Sơn và bà Phạm Thị Tuyết mảnh đất thổ cư và vườn liền kề với diện tích 121m2 đất tại số 9 ngõ 11, đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trên đất có ngôi nhà cấp 4, đất này đứng tên quyền sở hữu của ông Nho, bà Đức theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở số 10103110288 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 06/02/2002. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai gia đình mới chỉ được Ủy ban nhân dân phường Quảng An xác nhận mà chưa được xác nhận của Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ cũng như Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội. Sau khi giao đất cho gia đình ông Sơn bà Tuyết, ông Nho bà Đức cũng đã nhiều lần đưa hồ sơ cho ông Sơn bà Tuyết đi làm thủ tục sang tên nhưng không hiểu lý do gì, hay muốn chuyển nhượng sang tay cho người khác để tránh nộp thuế 2 lần mà ông Sơn bà Tuyết cố tình không thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.

Ngoài ra, trong quá trình sinh sống trên mảnh đất trên, ông Sơn bà Tuyết cũng không đóng thuế sử dụng đất theo quy định của Nhà nước và như theo thỏa thuận trong hợp đồng, buộc gia đình ông Nhà bà Đức phải nộp thuế sử dụng đất cho gia đình ông bà Tuyết trong 03 năm (2002, 2003, 2004).

Năm 2006, ông Nho chết, bà Đức đã làm văn bản giao toàn bộ tài sản cho các con bởi gia đình bà Tuyết, ông Sơn cố tình không thực hiện nghĩa vụ về thửa đất với Nhà nước và không hoàn tất các thủ tục sang tên, trong đó bao gồm cả phần đất đã làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông Sơn bà Tuyết.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự thì ông Sơn, bà Tuyết vi phạm khoản 1 Điều 288 Bộ luật dân sự việc chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đã dẫn đến sự việc như trên. Về phía ông Nho bà Đức không phải có ý trốn tránh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng trên mà đã nhiều lần giục nhưng ông Sơn bà Tuyết cố tình chây ỳ với ý đồ muốn trốn thuế Nhà nước. Đã hơn 10 năm qua, gia đình ông Sơn bà Tuyết đã làm nhà trên 100% diện tích đất của ông Nho bà Đức giao cho. Tại thời điểm chuyển nhượng, thửa đất mang tên ông Nho bà Đức chuyển nhượng cho ông Sơn bà Tuyết là việc của ông Nho bà Đức, chứ không phải mang tên hộ gia đình. Vì vậy, hiện nay các con ông Nho bà Đức không phải có bất cứ nghĩa vụ gì trong các hợp đồng đó. Hiện tại các con ông Nho bà Đức chỉ là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tiếp nhận thừa kế của ông Nho bà Đức để lại, vì vậy ông Sơn bà Tuyết muốn các con ông Nho bà Đức ký kết hay thỏa thuận bất kỳ một giao dịch nào thì cũng cần phải xem xét bàn bạc kỹ lưỡng với họ. Nếu ông Sơn bà Tuyết muốn thực hiện tiếp việc chuyển nhượng mảnh đất trên thì phải có thái độ hợp tác và có cách cư xử đúng mực, gia đình yêu cầu gia đình ông Sơn bà Tuyết nếu muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng thì phải hỗ trợ thêm 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng) thì các con ông Nho bà Đức sẽ thực hiện việc ký văn bản chuyển nhượng và tách sổ đỏ cho gia đình ông Sơn bà Tuyết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2014/DSST ngày 02 tháng 01 năm 2014  Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng:

Điều 121, 122, 123, 124, 450, 451, 452, 453, 454, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự;

Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án của Chính phủ, xử:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở giữa gia đình ông Ngô Văn Nho, bà Chu Thị Đức với gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết ký ngày 25/6/2001.

Giao cho gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết có quyền sử dụng 121m2 đất ở tại địa chỉ số 9 ngõ 11 đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trên đất gia đình ông Sơn bà Tuyết đã xây dựng ngôi nhà một tầng tường gạch lợp mái tôn diện tích 71,2m2 và các công trình phụ, tường bao, sân gạch, cây cối của gia đình ông Sơn bà Tuyết.

Gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết và gia đình bà Chu Thị Đức cùng các con (anh Ngô Quốc Việt, anh Ngô Quốc Triều, anh Ngô Hồng Quang, chị Ngô Thị Vinh, anh Ngô Hồng Phụng). Hai bên gia đình có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở. Nếu gia đình bà Đức cùng các con bà Đức không tiến hành điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở thì gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết có quyền đơn phương đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12 và 13 tháng 01 năm 2014, bà Chu Thị Đức, anh Ngô Quốc Việt, anh Ngô Quốc Triều, anh Ngô Hồng Quang, chị Ngô Thị Vinh, anh Ngô Hồng Phụng đều có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Phan Khắc Nghiêm và anh Ngô Hồng Phụng trình bày: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà giữa ông Nho và bà Đức cho vợ chồng anh Sơn, chị Tuyết từ năm 2002. Nhưng do ông Sơn, bà Tuyết không làm thủ tục sang tên như vậy là đã từ bỏ quyền của họ, yêu cầu tính lãi của khoản tiền chậm trả là 24.729.800 đồng. Sau đó anh Nghiêm và anh Phụng đều có ý kiến: Gia đình ông Sơn, bà Tuyết tự đi làm thủ tục sang tên và chịu mọi phí tổn, chi phí.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đồng bị đơn cùng nhất trí ý kiến của anh Nghiêm và anh Phụng.

Bà Phạm Thị Tuyết trình bày: Gia đình bà đã trả đủ tiền cho ông Nho, bà Đức và ông Nho, bà Đức đã giao nhà đất cho gia đình bà, bà ở từ năm 2005 và xây lại nhà mới, xây tường khuôn viên 121m2. Thời điểm đó bà có trả chậm một ít tiền nhưng được ông Nho và bà Đức đồng ý. Bà đề nghị được thực hiện hợp đồng, bà Tuyết nhất trí như ý kiến của bị đơn là chịu mọi phí tổn để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kết luận: Về thủ tục: Việc xét xử vụ án tuân thủ các quy định của pháp luật. Về nội dung: Công nhận ý kiến của nguyên đơn và bị đơn: Bà Tuyết tự đi làm thủ tục sang tên và chịu mọi phí tổn theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Luật sư và Kiểm sát viên.

XÉT THẤY

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn và các đồng bị đơn đều xác nhận: Ngày 25/6/2001 ông Ngô Văn Nho và bà Chu Thị Đức đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Phạm Thị Tuyết ông Trần Ngọc Sơn 121m2 đất ở, thửa đất có chiều ngang dọc theo ngõ 11 là 17m, chiều sâu hết thửa đất là 17,3m, ở tại số 9 ngõ 11 đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, trên đất có ngôi nhà cấp 4 diện tích 17m2 và công trình phụ là 25m2 với giá chuyển nhượng 1.574.300.000 đồng. Ông Sơn bà Tuyết đã thanh toán tiền đầy đủ và ông Nho, bà Đức đã giao nhà, đất cho ông Sơn, bà Tuyết. Ngày 24/12/2003 ông Nho chết, bà Đức và các con đã làm thủ tục tặng cho tài sản, giao toàn bộ nhà cửa, đất đai trong đó có phần đã bán cho ông Sơn, bà Tuyết bằng hợp đồng thỏa thuận phân chia tài sản cho các con bà Đức, ký ngày 12/6/2006 và được Sở tài nguyên môi trường thành phố ghi nhận (đăng ký) ngày 19/6/2006. Gia đình ông Sơn bà Tuyết đề nghị được hoàn thiện thủ tục hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nhưng phía gia đình bà Đức không nhất trí.

Xét việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở giữa ông Nho, bà Đức với vợ chồng ông Sơn, bà tuyết là việc ngay thẳng và hoàn toàn tự nguyện, hai bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự. Ông Sơn, bà tuyết cũng đã trả đầy đủ tiền như hai bên thỏa thuận, thực tế đã xây lại nhà và ở ổn định hơn 10 năm nay. Việc chuyển nhượng hai bên cũng đã thiết lập hợp đồng và có xác nhận của ủy ban nhân dân phường Quảng An vào ngày 22/3/2002.

Tuy nhiên về hình thức hợp đồng: Hai bên chưa hoàn thiện thủ tục, chưa làm các thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ vào điểm b.3 Mục 2, 3 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Nho, bà Đức với ông Sơn, bà Tuyết là có căn cứ.

Tại phiên tòa các bị đơn yêu cầu khoản tiền lãi về việc gia đình bà Tuyết chậm trả tiền, Hội đồng xét xử thấy quá trình giải quyết vụ án các đồng bị đơn không yêu cầu về vấn đề này và trong nội dung đơn kháng cáo cũng không yêu cầu về vấn đề này, phía bà Tuyết không nhất trí khoản tiền này nên không có cơ sở để xem xét.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn cũng nhất trí gia đình bà Tuyết tự đi làm thủ tục, giấy tờ và chịu mọi chi phí.

Như phân tích trên, do Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Nho, bà Đức với ông Sơn, bà Tuyết được công nhận nên gia đình bà Tuyết tự hoàn chỉnh các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 106 Luật đất đai và Điều 86 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: Kiến nghị với ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở (số 10103110288 do ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 06/02/2002 cho ông Ngô Văn Nho và bà Chu Thị Đức và ngày 19/6/2006 đã đăng ký sang tên cho các đồng sở hữu: Ông Ngô Quốc Việt, ông Ngô Quốc Triều, ông Ngô Hồng Quang, ông Ngô Hồng Phụng) trong đó có một phần diện tích đất 121m2 đã chuyển nhượng cho ông Trần Ngọc Sơn và bà Phạm Thị Tuyết.

Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, 450, 451, 452, 453, 454, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự;

Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án của Chính phủ, xử:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở giữa gia đình ông Ngô Văn Nho, bà Chu Thị Đức với gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết ký ngày 25/6/2001 (Ủy ban nhân dân phường Quảng An xác nhận ngày 22/3/2002).

Giao cho gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết có quyền sử dụng 121m2 đất ở tại địa chỉ số 9 ngõ 11 đường Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trên đất gia đình ông Sơn bà Tuyết đã xây dựng ngôi nhà một tầng tường gạch lợp mái tôn diện tích 71,2m2 và các công trình phụ, tường bao, sân gạch, cây cối của gia đình ông Sơn bà Tuyết.

Gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết và gia đình bà Chu Thị Đức cùng các con (anh Ngô Quốc Việt, anh Ngô Quốc Triều, anh Ngô Hồng Quang, chị Ngô Thị Vinh, anh Ngô Hồng Phụng). Hai bên gia đình có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở. Nếu gia đình bà Đức cùng các con bà Đức không tiến hành điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở thì gia đình ông Trần Ngọc Sơn, bà Phạm Thị Tuyết có quyền đơn phương đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Chu Thị Đức phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại gia đình bà Phạm Thị Tuyết số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo Biên lai thu tiền số 007349 ngày 05/10/2011.

án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đức, anh Việt, anh Triều, anh Quang, chị Vinh, anh Phụng mỗi người phải nộp 200.000 đồng (được trừ vào dự phí án phí phúc thẩm đã nộp) tại Biên lai thu tiền số 0009988 ngày 24/01/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


118
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về