Bản án 35/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 về tội gây rối trật tự công cộng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 23/08/2019 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Toà án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS đối với các bị cáo:

1. Phạm Tiến T - sinh năm 1994.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn TC, xã QT, huyện QP, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con Phạm Tiến Thvà bà Dương Thị L.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2019 đến ngày 28/5/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Duy T - sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn Tiêu Sơn, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Văn L - sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn Kim Húc, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Đình Th - sinh năm 1996.

+ Anh Vũ Hữu Ph - sinh năm 2000 + Anh Vũ Hữu Kh - sinh năm 1996.

Đa chỉ đều ở: Thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Đào Trong D - sinh năm 1996 Địa chỉ: Thôn Phù Tải 2, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Văn T, sinh năm: 1985; ĐKHKTT: Thôn Phú Khê, xã Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Đặng Bá V, sinh năm: 1986; ĐKHKTT: Thôn Kim Húc, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Bùi Văn Th; ĐKHKTT: Thôn Mai Động, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Hoàng Đình Kh, sinh năm: 1982; ĐKHKTT: Thôn Cầu Lâm, xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm: 1988; ĐKHKTT: Thôn Phù Tải II, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Lê Thanh T, sinh năm: 1989; ĐKHKTT: Số nhà 38B, ngõ 33, đường Bùi Thị Xuân, phường Lê Thanh Nghị, TP. Hải Dương.

+ Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 2000; ĐKHKTT: Thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Đình H, sinh năm: 1996; ĐKHKTT: Thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Văn N, sinh năm: 1987; ĐKHKTT: Thôn Cụ Trì, xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Hoàng Văn H, sinh năm: 1989; ĐKHKTT: Thôn Cầu Lâm, xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Quốc O, sinh năm: 1996; ĐKHKTT: Thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Đình Th, sinh năm: 1993; ĐKHKTT: Thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 22/8/2018, Trần Duy T đi đến quán bán nước của mình trên đường 392B, thuộc thôn Tiêu Sơn, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện (trước cổng công ty Trách nhiệm hữu hạn GFT thuộc cụm công nghiệp xã Thanh Giang). Khi đến quán Tĩnh nhìn thấy anh Vũ Hữu Kh – sinh năm 1996 ở thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang đang ngồi ở quán cầm đồ Đại Phú của anh Nguyễn Hữu Đ – sinh năm 1986 ở thôn Tiêu Sơn, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện (cách quán của Tĩnh khoảng 30m), thấy anh Kh nhìn sang, T cho rằng anh Kh nhìn đểu mình nên lời qua tiếng lại. Sau đó, T đã gọi cho anh Vũ Văn T ở thôn Phú Khê, xã Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện đến để giải hòa. Anh T đến gặp Kh nói chuyện, sau đó đi về quán của T thấy anh Đặng Bá V, Bùi Văn Th đều ở xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang; Hoàng Đình Kh, Hoàng Văn H đều ở xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, Vũ Văn Nưu ở thôn Cụ Trì, xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện và Vũ Văn L đang ngồi chơi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Tài rủ T, L, V, Th, Kh, H và N đi ăn trưa; sau đó có Trần Duy Q (em ruột Tĩnh) cùng với Lê Thanh T ở phường Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dương đến cùng ăn cơm. T kể với Q việc mâu thuẫn với anh Kh. Khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong, cả nhóm rủ nhau đi hát karaoke. T cùng với H đi xe mô tô về quán của T trước; T, Kh, V, Th, L, T và N cùng đi xe taxi; Q đi xe ô tô về quán của mình ở thôn Tiêu Sơn thì gặp Phạm Tiến T, T cùng lên xe của Q đi đến quán của T. Khi đến trước cửa quán cầm đồ Đại Phú, Q quan sát thấy anh Kh đang ngồi uống nước trước cửa quán cùng với anh Vũ Đình H – sinh năm 1996, Vũ Đình Th – sinh năm 1993 đều ở thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện. Do còn bực tức việc Kh mâu thuẫn với T nên Q xuống xe đi vào gặp Kh để nói chuyện thì xảy ra to tiếng. Q chửi bới và thách thức anh Kh. Trong lúc Q và Kh đang to tiếng với nhau thì Vũ Hữu Ph, Vũ Đình Th, Đào Trọng D và anh Vũ Quốc O – sinh năm 1996 ở thôn Đan Giáp, xã Thanh Giang từ trong quán chạy ra. Cùng lúc này, T, T, T, Kh, T, L từ bên quán nước nhà T chạy sang. Thấy đông người đang đứng chỗ Kh, nghĩ nhóm của Q, T đánh anh Kh và đánh nhóm của mình nên Dinh, Phương, Thắm chạy ra khu vực cuối sân bê tông bên cạnh quán Đại Phú cầm mỗi người 01 tuýp sắt, đầu gắn dao bầu (phóng lợn) chạy đến. Thắm đuổi Q chạy đến cuối cuối sân bê tông, cầm phóng lợn chém về phía Q nhưng không trúng thì T vào can ngăn giằng phóng lợn vứt ra đường, mất hung khí nên Th nhảy xuống sông chạy trốn. Thấy nhóm của D, Ph, Th cầm phóng lợn, T nhặt chiếc điều cày ở quán ném về phía nhóm D, Ph, Th nhưng không trúng, sau đó thấy nhóm của Ph đang xô xát với Q ở khu vực sân bê tông, T chạy đến giằng co chiếc phóng lợn nhưng chưa đánh được ai thì mọi người bỏ chạy, T vứt chiếc phóng lợn ở đường và đi về quán của T rồi gọi điện cho Nguyễn Đức Q – sinh năm 2000 ở thôn Tiêu Sơn, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện mang hung khí lên để đánh nhau với nhóm của Kh. Lúc này ở cuối sân bê tông của quán Đại Phú, D đang cầm dao phóng lợn chạy ra thì bị T giằng được; T dùng tay đấm vào người D, D bỏ chạy về hướng cống Tiêu Lâm; cũng tại vị trí trên, Phương đang cầm phóng lợn thì bị L giằng được. L và T cùng lao vào đánh về phía Ph; Ph bị ngã thì T vứt dao phóng lợn ra cạnh tường gần nhà vệ sinh của quán Đại Phú. L lùi lại bị ngã dao phóng lợn văng ra, Ph đứng dậy nhặt dao phóng lợn chém về phía L nhưng không trúng làm đầu phóng lợn gẫy ra. T lao vào giằng được thân của dao phóng lợn (tuýp sắt dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 2cm) quay lại đuổi Kh làm Kh bị ngã, T dùng tuýp sắt vụt vào tay Kh, Kh chạy vào quán Đại Phú đóng cửa lại. Lúc này Q cầm một phóng lợn đi đến gõ vào cửa quán Đại Phú, thách thức, chửi bới và yêu cầu mở cửa nhưng không được nên đã đập vào cửa quán làm nứt vỡ kính rồi cầm phóng lợn đi về quán nước của của T.

Sau khi nhóm của Q đi về quán của T thì Q mang theo 4 tuýp sắt đầu có gắn dao bầu lên quán nhưng hai nhóm không còn xô xát nữa nên T bảo Q mang về. Nhóm của Q lên xe bỏ đi, Công an xã Thanh Giang đã đến hiện trường giải quyết vụ việc; lúc này thấy anh Kh đang đứng ở gần công trường đang thi công (cạnh Công ty GFT) thì Th, H, Th đuổi bắt với mục đích giao lại cho cơ quan Công an vì cho rằng trước đó anh Kh có tham gia đánh nhóm của Kh. Do còn bực tức nên Th, H dùng tay tát anh Kh nhưng không gây thương tích. Do sợ hãi, anh Kh bỏ chạy, trèo qua hàng rào Công ty GFT, bị thanh sắt của hàng rào làm rách da ở bộ phận sinh dục. Th, H và Th ra giữ anh Kh lại đưa về quán để giao cho cơ quan Công an xã Thanh Giang. Một lúc sau, Th nghĩ trước đó anh Kh đuổi mình nên cầm ¼ viên gạch đập vào đầu làm anh Kh bị thương chảy máu (BL: 164-274, 337-384).

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 178/TgT ngày 07/9/2018 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Anh Kh bị chấn thương gãy 1/3 dưới hai xương cẳng tay trái, chấn thương gãy xương bàn tay trái và vết thương phần mềm cánh tay trái kích thước trung bình. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23% (BL: 145).

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 197/TgT ngày 04/10/2018 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Anh Kh bị sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu kích thước trung bình, sẹo vết thương phần mềm bàn tay phải kích thước nhỏ và sẹo vết thương phần mềm vùng bìu phải kích thước trung bình. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% .

Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 28/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Thanh Miện kết luận: Trị giá phần hư hỏng của bộ cánh cửa của quán cầm đồ Đại Phú của anh Nguyễn Hữu Đ là 100.000 đồng.

Hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích của Trần Duy T; hành vi phạm tội Gây rối trật tự công cộng của Vũ Văn L, Vũ Đình Th, Đào Trọng D, Vũ Hữu Ph và vật chứng của vụ án đã được xét xử trong bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện.

Quá trình điều tra Trần Duy Q và Phạm Tiến T đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã. Ngày 26/5/2019, Tuấn ra đầu thú, Cơ quan điều tra ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án để điều tra xử lý đối với T; đến nay chưa bắt được Trần Duy Q nên chưa có căn cứ phục hồi, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Tiến T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 36/VKS-HS ngày 30-7-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo Phạm Tiến T về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến T phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".

- Về điều luật áp dụng:

+ Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Tiến T.

Xử phạt:

+ Xử phạt bị cáo Phạm Tiến T từ 25 đến 28 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 26/5/2019.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Khong 13 giờ ngày 22/8/2018, trên đường 392B, tại khu vực trước cổng Công ty Trách nhiệm hữu hạn GFT thuộc cụm công nghiệp xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; Phạm Tiến T có hành vi dùng phóng lợn, điếu cày đuổi đánh nhau, gọi điện cho Q mang hung khí đến đánh nhau gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Hành vi của bị cáo T là nghiêm trọng đã xâm phạm đến nội quy, quy tắc, trật tự chung ở nơi công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã dùng dao phóng lợn, Điếu cày (là hung khí) đuổi đánh nhau ở cửa quán cầm đồ Đại Phú cạnh đường giao thông, cạnh các công ty nơi có nhiều người qua lại và công nhân làm việc. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo T có nhân thân tốt; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, năn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra, bị cáo đã bị truy nã theo quyết định truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Miện do vậy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị Quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/02/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Nên cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng đã được giải quyết trong vụ án trước nên không đặt ra để giải quyết.

[4] Về án phí: Bị cáo Phạm Tiến T bị kết luận phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Về điều luật áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Tiến T.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến T phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".

3. Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo pham Tiến T 25 (hai mươi lăm) tháng tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ 26/5/2019.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về