Bản án 358/2018/HS-ST ngày 17/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 358/2018/HS-ST NGÀY 17/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 370/2018/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2001 tại Thành phố M; Thường trú: Số 46/7/4 khu phố 2, phường P, quận Đ, Thành phố M; Chỗ ở: Hẻm 104 đường T, phường P, quận Đ, Thành phố M; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm: Không rõ (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: không rõ (đã chết); bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/7/2018 đến ngày 21/7/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú . Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959, địa chỉ: Hẻm 104 đường T, phường P, quận Đ, Thành phố M. Có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2001; địa chỉ: Số 44 đường số 1, khu phố 2, phường X, quận Thủ Đ, Thành phố M. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 11/7/2018, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 52X1-8027 đi đến khu vực đường T, quận G, Thành phố Mvà sử dụng điện thoại hiệu Viettel màu đỏ đen có số sim 01205.555458 gọi cho người tên V (chưa rõ lai lịch) mua 1.500.000 đồng ma túy đá đựng trong bịch ny lon miệng kéo dính. Đến 18 giờ cùng ngày, T rủ Nguyễn Thị Phương L là bạn gái T đến thuê nhà nghỉ H tại khu phố Đ 2, phường A, thị xã D, tỉnh B sử dụng ma túy. Đến 00 giờ 45 phút ngày 12/7/2018, Công an phường A kiểm tra nhà nghỉ H phát hiện trong phòng có bộ sử dụng ma túy đá. Sau đó, T lấy gói ma túy ra giao nộp cho Công an phường A nên Công an phưởng A lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bộ sử dụng ma túy đá; 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu đỏ đen, sim số 01205.555.458; 01 xe mô tô biển số 52X1 - 8027

Theo kết luận giám định số 420/MT-PC09 ngày 17/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Hoàng T là ma túy, có trọng lượng 1,4363 gam, loại Methamphetamine.

Căn cứ kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0572/ĐT/2018, ngày 25/7/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế N về độ tuổi của Nguyễn Hoàng T là 18 tuổi 06 tháng (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 19/7/2018.

Đối với người tên V (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Hoàng T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D sẽ xác minh làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định trọng lượng 1,3218 gam, loại Methamphetamine; 01 bộ sử dụng ma túy đá; 01 sim số 01205.555.458 đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu đỏ đen đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển số 52X1 – 8027 qua điều tra xác định đây là tài sản của bà Nguyễn Thị H. Nguyễn Hoàng T sử dụng xe mô tô trên thực hiện tội phạm bà H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại xe cho bà H.

Tại cáo trạng số 360/CT–VKS - DA ngày 31 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 52, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị Nguyễn Hoàng T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hìnhphạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng cũng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/7/2018, Công an phường A, thị xã D, tỉnh B kiểm tra phòng 306 nhà nghỉ H tại khu phố Đ2, phường A, thị xã D, tỉnh B của Nguyễn Hoàng T thuê, phát hiện trong phòng có bộ sử dụng ma túy đá. Sau đó, T lấy gói ma túy ra giao nộp cho Công an phường A nên Công an phường A lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú.

Tại phiên tòa, bị cáo đa khai nhân toan bô hanh vi pham tôi , lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Với hành vi cất giữ 1,4363 gam loại Methamphetamine để sử dụng mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đu năng lưc chiu trach nhiêm hinh sư . Do vây, Cáo trạng của Viên kiêm sat nhân dân thị xã D truy tô bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xa hôi, xâm pham đên hoat đông quan ly cua Nha nươc đôi vơi chât ma tuy . Hiện nay, tình hình nghiện hút chât ma tuy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp . Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, loại tội phạm này là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hậu quả rất xấu cho xã hội. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi trong độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 nên Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.

[6] Về nhân thân: Bị cáo mồ côi cha mẹ, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trọng lượng 1,3218 gam, loại Methamphetamine; 01 bộ sử dụng ma túy đá; 01 sim số 01205.555.458 . Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu đỏ đen. Đối với 01 xe mô tô biển số 52X1 – 8027 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại xe cho bà Nguyễn Thị H.

[8] Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo T là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày12/7/2018 đến ngày 21/7/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đã niêm phong bên trong chứa 1,3218 gam loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và sim số 01205.555.458.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu đỏ đen. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/10/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D với Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin ) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 358/2018/HS-ST ngày 17/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:358/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về